Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Kv 10.11 Vô Biểu Tri Phạm Giới Ngữ

Vi Diệu Pháp
Abhidhamma

Bộ Ngữ Tông
Kathāvatthu

Mahāpaṇṇāsaka

Dasamavagga

Aviññattidussilyantikathā

Tự ngôn: Vô biểu tri (aviññatti) thành sự phá giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
Aviññatti dussilyanti? Āmantā.

Tự ngôn: Thành sát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…
Pāṇātipātoti? Na hevaṁ vattabbe …pe…

Tự ngôn: Thành trộm cướp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…
adinnādānanti? Na hevaṁ vattabbe …pe…

Tự ngôn: Thành tà dâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…
kāmesumicchācāroti? Na hevaṁ vattabbe …pe…

Tự ngôn: Thành vọng ngữ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…
musāvādoti? Na hevaṁ vattabbe …pe…

Tự ngôn: Thành uống rượu, dùng chất say phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…
surāmerayamajjapamādaṭṭhānanti? Na hevaṁ vattabbe …pe….

Tự ngôn: Thành nguyện trì nghiệp tội rồi vẫn bố thí thì phước và tội cả hai thứ đều tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…
Pāpakammaṁ samādiyitvā dānaṁ dadantassa puññañca apuññañca ubho vaḍḍhantīti? Na hevaṁ vattabbe …pe… 

Tự ngôn: Phước và tội cả hai thứ đều tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
puññañca apuññañca ubho vaḍḍhantīti? Āmantā.

Tự ngôn: Thành cách hiệp nhau của hai thứ xúc … của hai thứ tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…
Dvinnaṁ phassānaṁ …pe… dvinnaṁ cittānaṁ samodhānaṁ hotīti? Na hevaṁ vattabbe …pe…

Tự ngôn: Thành cách hội nhau của hai thứ xúc … của hai thứ tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
dvinnaṁ phassānaṁ …pe… dvinnaṁ cittānaṁ samodhānaṁ hotīti? Āmantā. 

Tự ngôn: Pháp mà thành thiệnbất thiện, có lỗi và không lỗi, ty hạ và tinh lương (panita), đen và trắng, thành đối lập nhau, đến gặp nhau đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…
Kusalākusalā sāvajjānavajjā hīnapaṇītā kaṇhasukkasappaṭibhāgā dhammā sammukhībhāvaṁ āgacchantīti? Na hevaṁ vattabbe …pe….

Tự ngôn: Pháp mà thành thiện và bất thiện, có lỗi và không có lỗi, ty hạ và tinh lương, đen và trắng, thành đối lập nhau, đến gặp nhau đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
Kusalākusalā sāvajjānavajjā hīnapaṇītā kaṇhasukkasappaṭibhāgā dhammā sammukhībhāvaṁ āgacchantīti? Āmantā.

Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng “Này chư Phíc-khú, bốn cách đây xa nhau rất xa nhau. Bốn cách chi? Một là trời và đất xa nhau rất xa nhau … do thế đó pháp của hiền triết mới cách xa phi hiền triết”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
Nanu vuttaṁ bhagavatā—“cattārimāni, bhikkhave, suvidūravidūrāni. Katamāni cattāri? Nabhañca, bhikkhave, pathavī ca—idaṁ paṭhamaṁ suvidūravidūraṁ …pe… tasmā sataṁ dhammo asabbhi ārakā”ti. Attheva suttantoti? Āmantā.

Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp mà thành thiện và bất thiện, có lỗi và không lỗi, ty hạ và tinh lương, đen và trắng, thành đối lập nhau, đến gặp nhau đặng.
Tena hi na vattabbaṁ—“kusalākusalā sāvajjānavajjā hīnapaṇītā kaṇhasukkasappaṭibhāgā dhammā sammukhībhāvaṁ āgacchantī”ti …pe….

Tự ngôn: Khi người nguyện tri nghiệp tội rồi mà vẫn dưng y, vẫn để bát, vẫn dưng tọa cụ, dưng thuốc ngừa bệnh, cùng vật dụng, vẫn lễ bái bực đáng lễ bái, vẫn tiếp đãi với bực đáng tiếp đãi, chấp tay cung kỉnh bực đáng cung kỉnh, tôn trọng bực đáng tôn trọng, cho tọa cụ bực đáng cho tọa cụ, giúp đường đi cho bực đáng giúp đường đi thì phước và tội cả hai thứ vẫn tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…

Tự ngôn: Phước và tội cả hai thứ đều tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Cách hội nhau của hai thứ xúc … của hai thứ tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…

Tự ngôn: Thành cách hội nhau của hai thứ xúc … của hai thứ tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Nghiệp mà thành thiện và thành bất thiện, có lỗi và không lỗi, ty hạ và tinh lương, đen và trắng, thành đối lập nhau, đến gặp nhau đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…

Tự ngôn: Pháp mà thành thiện và bất thiện, có lỗi và không lỗi ty hạ và tinh lương, đen và trắng, thành đối lập nhau, đến gặp nhau đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, bốn cách này xa nhau rất xa nhau. Bốn cách chi? Một là trời và đất xa nhau rất xa nhau … do thế đó pháp của hiền triết xa phi hiền triết”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp mà thành thiện và bất thiện, có lỗi và không lỗi, ty hạ và tinh lương, đen và trắng, đối lập nhau đến gặp nhau đặng.

Phản ngữ: Chớ nói rằng vô biểu tri thành sự phá giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
Na vattabbaṁ—“aviññatti dussilyan”ti? Āmantā. 

Phản ngữ: Người thành kẻ nguyện trì nghiệp tội để rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
Nanu pāpakammaṁ samādinno āsīti? Āmantā.

Phản ngữ: Nếu mà người thành kẻ nguyện trì nghiệp tội để rồi, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng vô biểu tri thành sự phá giới như vậy.
Hañci pāpakammaṁ samādinno āsi, tena vata re vattabbe—“aviññatti dussilyan”ti.

Dứt Vô biểu tri phá giới ngữ
Aviññatti dussilyantikathā niṭṭhitā.

Ghi chú: Đoạn in nghiêng không thấy Pāḷi trong Mahāsaṅgīti Tipiṭaka Buddhavasse 2500

Trang chủ » Ab. Vi Diệu Pháp » Kv. Bộ Ngữ Tông » Kv 10. Phẩm Thứ Mười » Kv 10.11 Vô Biểu Tri Phạm Giới Ngữ