Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Minh Hạnh Túc (Vijjācaraṇasampanno)

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
THERAVĀDA

—–

ÂN ĐỨC PHẬT BẢO
(BUDDHA GUṆA)

Cố vấn
Nāga Mahā Thera – Trưởng lão Bửu Chơn

Phiên dịch
Cư sĩ Huỳnh Thanh Long

 Dl. 2506 – Pl.1962

Tại sao Đức Phật có hiệu là Vijjācaraṇasampanno (Minh Hạnh Túc)? Bởi Ngài đã toàn đắc: 3 cái giác (vijjā), 5 cái giác (hoặc minh), 15 cái hạnh (caraṇa).

“Giác” hoặc “minh” (vijjā) có nghiã là sự hiểu biết cùng tột, tinh tường.

Ba cái giác của Đức Phật có kể trong kinh “Bhayabhevara sutta” (Majjhima Nikāya) như sau:

− Túc mạng minh (pubbe nivāsānussati vijjā) là tuệ biết rõ những tiền kiếp của Ngài và của tất cả chúng sanh.

Ðức Phật tri tỏ căn nguyên của thân ngũ uẩn của Ngài từ một kiếp đến vô số kiếp quá khứ: trong kiếp nào Ngài sanh trong cảnh nào, khi ấy có tên họ chi, dòng giống nào, sắc diện thế nào, tuổi thọ được bao nhiêu, khi thác rồi tái sanh trong cảnh nào… Ngài đều rõ biết từng chi tiết như thế trong mỗi tiền kiếp của Ngài và luôn của mỗi chúng sanh nữa.

Ðức Phật đắc túc mạng minh lúc đầu hôm, trong đêm thành đạo dưới cội bồ đề.

− Thiên Nhãn minh (cutūpapāta vijjā) có 2 nghĩa sau đây:

Sanh tử minh là có nhãn thông thấy rõ sự sanh tử luân hồi của chúng sanh đều do nghiệp (ác hoặc thiện) cấu tạo nên.

Chúng sanh nào làm những nghiệp ác do thân, khẩu, ý, chấp theo tà kiến sẽ tái sanh trong các cảnh khổ (duggati) là cảnh a-tu-la, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục. Chúng sanh nào làm những nghiệp lành do thân, khẩu, ý, noi theo chánh kiến sẽ tái sanh vào cõi yên vui (sugati) là cõi trời và cõi người (người có nhiều hạnh phúc). Đức Phật thấy rõ và biết trước cảnh giới tái sanh của mỗi chúng sanh tùy theo nghiệp dữ hoặc lành mà chúng sanh ấy đã tạo.

Thiên Nhãn thông là có nhãn thông thấy rõ tất cả Chư Thiên, nhân loại và các vật.

Dầu sâu dưới đất, trong lòng núi hay bị che án, dầu hữu hình hoặc vô hình, dầu gần hoặc xa đến đâu, Ngài cũng đều thấy rõ như ngay trước mắt.

Nhưng đây chỉ nói đến sanh tử minh là cái minh mà Đức Phật đã đắc vào khoảng giữa đêm Ngài thành đạo.

− Lậu tận minh (āsavakkhaya vijjā) là tuệ biết rõ các pháp trầm luân mà diệt tận.

Pháp trầm luân (āsava) có 4: trầm luân trong ái dục (kāmāsava), trầm luân trong tam giới (bhavāsava), trầm luân trong tà kiến (diṭṭhāsava), trầm luân trong vô minh (avijjāsana). Riêng về ái dục, Đức Phật đã thấy rõ, hiểu biết tường tận: đây là khổ, đây là nguyên nhân phát sanh sự khổ, đây là nơi diệt khổ, đây là con đường đi đến nơi diệt khổ. Về các pháp trầm luân khác là tam giới, tà kiến, vô minh, Ngài cũng hiểu thấy rõ rệt: pháp này là pháp trầm luân, pháp này là nhân sanh sự trầm luân, đây là nơi diệt pháp trầm luân, đây là phương pháp diệt trừ pháp trầm luân.

Ðức Phật đắc lậu tận minh vào lúc rạng đông đêm thành đạo. Ðạo quả viên thành, Ngài thành bậc Chánh đẳng Chánh giác là bậc tối thượng, thầy cả Chư Thiên và nhân loại, là bậc xứng đáng cho chúng sanh tôn trọng, lễ bái cúng dường.

Ngoài 3 cái giác vừa kể trên, Đức Phật còn đắc 5 cái giác (hoặc minh) khác, có kể trong kinh “Ambaṭṭha sutta” thuộc bộ Trường-a-hàm “Dīgha Nikāya”.

Năm cái giác ấy là:

− Minh sát minh (vipassanā vijjā) là tuệ quán tưởng các pháp hành (saṅkhāra) là danh và sắc (nāma rūpa) theo 10 pháp minh sát (vipassanā):1Xin xem giải rộng trong quyển “Thanh Tịnh Kinh” của Ðại đức Hộ Tông. huệ quán tưởng các danh và sắc đều vô thường, khổ não, vô ngã, đúng theo thật tướng (sammasanaññāṇa), huệ quán tưởng sự sanh và diệt của danh sắc (udayabbayaññāṇa), huệ quán tưởng sự tan rã, phân tán của danh sắc (bhaṅgaññāṇa), huệ quán tưởng cho thấy danh sắc đáng ghê sợ như là thú dữ (bhayaññāṇa), huệ quán tưởng cho thấy rõ tội lỗi của danh sắc như người thấy nhà mình bị lửa cháy, tìm đường thoát ra cho khỏi (adīnavaññāṇa), huệ quán tưởng cho phát sanh lòng chán nản danh sắc (nibbidāññāṇa), huệ quán tưởng cho phát sanh tâm mong mỏi thoát khỏi danh sắc, cũng như cá mắc lưới muốn thoát thân, như kẻ tù tội muốn lìa khỏi cùm xích lao tù (muncitukamyatāññāṇa), huệ quán tưởng tìm phương thế giải thoát khỏi danh sắc (patisaṅkhāraññāṇa), huệ xả là không còn chấp danh sắc nữa, không vui, không buồn ví như người bỏ hẳn vợ, chẳng còn mến tiếc nữa, dầu người vợ ấy có tư tình với người nào mình cũng thản nhiên (saṅkhārupekkhāññāṇa), huệ thấy rõ và dốc lòng thực hành xuôi theo thánh đạo (anulomaññāṇa).

Minh sát ẩn tàng trong tâm Đức Phật từ khi Ngài chưa xuất gia tầm đạo, nhưng lúc ấy chưa được uyên viễn, tinh vi.

Chính nhờ cái minh còn thô thiển ấy mà khi còn là thái tử Sĩ-Ðạt-Ta, Ngài đã nhận thức được những điều thống khổ của sự già, đau, chết khi trông thấy một người già, một bệnh nhân, một tử thi trong lúc Ngài du ngoạn ngoài hoàng thành. Lúc trở về nội cung, Ngài suy xét mãi về cái thân ngũ uẩn vô thường, phát tâm chán nản thế sự phù du, quả quyết cắt ái ly gia mong tìm đường giải thoát.

Minh sát minh là cái giác đầu tiên trong 8 cái giác mà Đức Phật đã đắc vì nhờ minh sát minh mà Ngài mới hoàn toàn tri tỏ lý tứ diệu đế.

Sau khi cảm thắng bọn Ma vương dưới cội bồ đề do nhờ 10 pháp ba-la-mật, Ngài liền nhập diệt thọ tưởng định (samāpatti) lúc xuất định, Ngài dùng minh sát minh chiếu vào các pháp hành (hữu vi) và thấy rõ danh sắc đều là vô thường (aniccaṃ), khổ não (dukkhaṃ), vô ngã (anattā). Ngài ví ngũ uẩn theo lý tứ diệu đế như vầy: khổ đế: ngũ uẩn là chúa tể các sự khổ rất đáng sợ ví như năm kẻ nghịch hung bạo; tập đế: ba cái tâm ái dục ví như ba tên dẫn đường chỉ nẻo cho năm kẻ nghịch ấy; diệt đế: Niết-bàn là khí cụ để ngăn cản, chặn lối bọn nghịch ấy; đạo đế: Bát chánh đạo là phương pháp diệt trừ bọn nghịch ấy.

Khi tìm thấy căn nguyên của sự khổ và phương pháp diệt tận sự khổ bằng minh sát minh rồi, đức Bồ tát mới xa lìa được ba cái sử (samyojana) – pháp thằng thúc – đầu tiên là thân kiến (sakkāya diṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā) và giới cấm thủ (sīlabbattaparāmāsa) – chấp theo tập quán, theo lệ cúng tế thần thánh – bằng Tu-đà-huờn đạo tuệ (sotāpatti maggaññāṇa). Rồi Ngài xa lìa cái thô siển của hai sử nữa là: vui thích tình dục (kāmacchanda) và thù oán, mong hại người (byāpāda) bằng Tư-đà-hàm đạo tuệ (sakidāgāmi maggaññāṇa). Ngài lại xa lìa cái vi tế của 2 sử kể trên và diệt tận trọn vẹn cả hai sử ấy bằng A-na-hàm đạo tuệ (anāgāmi maggaññāṇa). Kế tiếp, Ngài xa lìa cả năm sử cuối cùng là: vui thích cảnh sắc (rūparāga), vui thích cảnh vô sắc (arūparāga), cống cao, ngã mạn (māna), phóng tâm (uddhacca), vô minh (avijjā) bằng A-la-hán đạo tuệ (arahatta maggaññāṇa).

Phiền não chướng ngại đã xa lìa, thâm tâm Bồ tát trở nên hoàn toàn trong sạch, A-la-hán quả phát sanh lên và 7 cái giác khác cũng tuần tự khởi phát lên tròn đủ đến tâm Ngài.

 Hóa tâm minh (manomayiddhi vijjā) là cái tâm có thể biến tâm mình ra thành thân hình, như ta rút cái tim của cây cỏ ống ra khỏi cọng vậy.

Ðức Phật dùng tâm lực tự hóa ra khi thì làm người già, lúc thì làm người trẻ… biến hiện dưới hình thể, khác nhau tùy theo ý muốn của Ngài.

Thần thông minh (idhividhi vijjā) là cái minh có thể dùng các pháp thần thông.

Ðức Phật có thể biến hóa một người thành ra nhiều người hoặc nhiều người thành ra một người. Ngài có thể tàng hình, độn thổ, đi trên nước như trên đất bằng; đi ngang qua vách, núi như đi trong khoảng trống; ngồi xếp bằng bay trên hư không; lấy tay rờ mặt trời mặt trăng; làm cho đường gần thành ra xa, xa thành gần, vật này biến thành vật khác, vv…

 Thiên nhĩ minh (dibbasota vijjā) là cái minh có thể nghe các thứ tiếng, dầu xa, dầu gần.

Ðức Phật có thể nghe tiếng các loài (noãn, thai, thấp, hoá) nhất là loài người và Chư Thiên, dầu tiếng ấy ở xa đến đâu Ngài cũng nghe được cả.

 Tha tâm thông (cetopariya vijjā) là tuệ biết rõ ý tưởng hoặc tâm thức của người khác.

Ðức Phật đã biết rõ tâm của tất cả chúng sanh: tâm người này còn tham, sân, si, tâm người kia đã dứt phiền não; người này đang tưởng điều ác, người kia đang nghĩ điều lành. Nhờ cái minh ấy mà ai đến gần, Ngài liền biết rõ người ấy muốn tìm Ngài để làm gì, hỏi chi, vv…

Năm cái giác vừa kể trên hiệp với ba cái giác đã giải phía trước, thành ra 8 cái giác (hoặc minh) mà Đức Phật đã đắc.

Hạnh (hoặc hành) (carana) là phương pháp mà bậc phạm hạnh phải hành theo để đi đến nơi giải thoát là Niết-bàn.

Pháp hành có 15:

 Thu thúc theo giới hạnh (sīla samvara) là giữ tứ thanh tịnh giới (patimokkha) cho trọn vẹn tinh nghiêm.

 Thu thúc lục căn (indriya samvara) cho thanh tịnh là giữ tâm cho bình thản không vui, không buồn, không cho cảnh trần chi phối khi lục căn tiếp xúc với lục trần.

 Có sự tiết độ (bhojane mattaññutā) trong vật thực là không độ nhiều quá hoặc ít quá, chỉ độ một buổi ngọ thôi.

 Luôn luôn giữ tâm thần tỉnh táo không uể oải (jāgariyānuyogo) là hằng thức tỉnh, không mê ngủ.

 Có đức tin chân chánh (saddhā) là tin lý nhân quả (tin nghiệp và tin quả), tin nơi sự giác ngộ của đức Thế Tôn và tin nơi 37 phần pháp Bồ đề.

 Có sự ghi nhớ chân chánh và biết mình (sati sampajañña) là ghi nhớ theo tứ niệm xứ (niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp) và biết rõ những hành vi của mình về thân, khẩu, ý.

 Hổ thẹn tội lỗi (hiri) đã làm.

 Ghê sợ tội lỗi (ottappa), không dám tái phạm.

 Nghe nhiều, học rộng (bāhusacca) (về kinh, luật, luận và về các pháp giải thoát).

 Có sự tinh tấn (viriya) đúng theo tứ chánh cần2Tứ chánh cần (samappadhāna): cố gắng diệt trừ các pháp ác đã phát sanh nơi thân tâm, cố gắng ngăn ngừa các pháp ác chưa sanh không cho xâm nhập vào thân tâm, cố gắng làm cho tăng trưởng các pháp lành đã có (hoặc làm hoàn bị những pháp hành đã đắc), cố gắng làm cho phát sanh các pháp lành chưa có (hoặc hành các pháp hành chưa đắc)..

 Có trí tuệ (paññā) hiểu thấy chân chánh, là hiểu thấy theo 3 thật tướng của vũ trụ (vô thường, khổ não, vô ngã) theo lý Tứ diệu đế.

 Hành theo sơ thiền (pathama jhāna).

 Hành nhị thiền (dutiya jhāna).

 Hành cho đắc tam thiền (tatiya jhāna).

 Hành cho đắc tứ thiền (catuttha jhāna).

Nhờ toàn đắc 8 cái giác mà Đức Phật phát sanh trí tuệ vô biên, nhờ hành viên mãn 15 cái hạnh mà Ngài phát tâm đại bi vô lượng. Do nhờ trí tuệ mà Đức Phật thông suốt cái khổ, nhờ lòng đại bi mà Ngài chỉ dạy chúng sanh phương pháp diệt khổ. Do nhờ trí tuệ mà Đức Phật đã tự mình đến bờ giác ngộ, nhờ lòng đại bi mà Ngài dắt dẫn chúng sanh đến bờ giải thoát. Do nhờ trí tuệ mà Đức Phật đã chứng bậc Chánh đẳng Chánh giác, nhờ lòng đại bi mà Ngài thực hành trọn vẹn phận sự của một bậc Chánh Biến Tri. Do nhờ trí tuệ mà Đức Phật tri tỏ pháp nào có sự lợi ích, pháp nào có sự nguy hại đến chúng sanh, nhờ lòng đại bi mà Ngài khuyên bảo chúng sanh lánh xa những điều tội lỗi, khuyến khích chúng sanh làm những điều lành.

Nói tóm lại, do nhờ 8 cái giác và 15 cái hạnh của Đức Phật mà các hàng tứ chúng môn đệ của Ngài được dắt dẫn chu đáo trên con đường chân chánh, lánh xa những con đường sai lầm như tu khổ hạnh, tà kiến, lợi dưỡng, vv…

Do nhờ những ân đức cao quí vừa giải phía trên, nên Ngài có hiệu là Vijjācaraṇasampanno (Minh Hạnh Túc).


Ghi chú:

  • 1
    Xin xem giải rộng trong quyển “Thanh Tịnh Kinh” của Ðại đức Hộ Tông.
  • 2
    Tứ chánh cần (samappadhāna): cố gắng diệt trừ các pháp ác đã phát sanh nơi thân tâm, cố gắng ngăn ngừa các pháp ác chưa sanh không cho xâm nhập vào thân tâm, cố gắng làm cho tăng trưởng các pháp lành đã có (hoặc làm hoàn bị những pháp hành đã đắc), cố gắng làm cho phát sanh các pháp lành chưa có (hoặc hành các pháp hành chưa đắc).
Trang chủ » Sưu Tập Pháp » Trưởng Lão Bửu Chơn » Ân Đức Phật Bảo » Minh Hạnh Túc (Vijjācaraṇasampanno)