Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Phật (Buddho)

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
THERAVĀDA

—–

ÂN ĐỨC PHẬT BẢO
(BUDDHA GUṆA)

Cố vấn
Nāga Mahā Thera – Trưởng lão Bửu Chơn

Phiên dịch
Cư sĩ Huỳnh Thanh Long

 Dl. 2506 – Pl.1962

 Tại sao Đức Phật có hiệu là Buddho (Phật)? Bởi Ngài là bậc đã thức tỉnh; bậc đã thoát ly; bậc đã thông suốt lý Tứ diệu đế và đem ra giáo hóa cho chúng sanh cùng biết như Ngài.

1. Bậc đã thức tỉnh.

Ðức Thế Tôn là bậc đã thức tỉnh, vì Ngài không còn trong tâm 7 pháp ngủ ngầm (anusaya) là những phiền não vi tế tiềm tàng chờ có dịp thì dấy động lên: mê thích tình dục (ngũ trần) ngủ ngầm (kāmārāgānusaya); ưa thích tam giới ngủ ngầm (bhavarāgānusaya), bất bình ngủ ngầm (paṭighānusaya); cống cao, ngã mạn ngủ ngầm (mānānusaya), kiến thức ngủ ngầm (tà kiến) (diṭṭhānusaya), hoài nghi ngủ ngầm (vicikicchānusaya); vô minh ngủ ngầm (avijjānusaya).

Ngài là bậc giác ngộ, nghĩa là tự mình đã hiểu biết tường tận (bujjhi) và diệt tận trong tâm bảy pháp ngủ ngầm vừa kể trên, rồi Ngài lại cảnh tỉnh chúng sanh đang ngủ mê hoặc ngủ quên trong các pháp ấy cho tỉnh dậy như Ngài. Chúng sanh nào, tròn đủ thiện duyên thì tỉnh dậy liền, chúng sanh nào ít hoặc không có thiện duyên thì lăn qua trở lại rồi tiếp tục ngủ nữa.

Đức Thế Tôn đã tự mình tỉnh dậy, không ai nhắc nhở hoặc thức tỉnh cho, chỉ do nhờ 30 pháp ba-la-mật đã đào tạo trong 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Chính sự thực hành viên mãn 30 pháp ba-la-mật ấy đã thức tỉnh Ngài, ví người ngủ đã giấc hoặc đúng giờ rồi tự nhiên thức dậy không cần ai kêu gọi.

Từ khi thành đạo dưới cội bồ đề đến lúc nhập Niết-bàn, Ngài đã châu du hoằng hóa, tế độ quần sanh trọn 45 năm trường đằng đẳng không ngừng nghỉ. Vì Ngài là bậc đã giác ngộ, thức tỉnh trước tiên, Ngài thấy rõ tội lỗi và khổ não trong sự ngủ quên, và sự an lạc trong cõi Niết-bàn. Ngài thấy chúng sanh đang lặn hụp rên siết trong khổ hải, nên phát tâm bi mẫn rộng lớn bao la, lo lắng nhắc nhở, cảnh tỉnh (bodhesi) chúng sanh đang ngủ mê trong vòng sanh tử luân hồi, cho tỉnh dậy cũng như Ngài.

2. Bậc đã thoát ly.

Đức Thế Tôn là bậc đã thoát ly, ra khỏi vô minh. Vô minh có hai nghĩa: không thấy (adassanaṃ), không biết (aññāṇaṃ).

Vô minh đây, ý nói không thấy, không biết những Pháp chân thật là Tứ diệu đế. Có bốn điều:

− Không biết rõ cái khổ (dukkha aññāṇaṃ). Chúng sanh có thức tánh như trời, người, thú, v.v… đang bị các sự thống khổ đè nén hãm hại không ngừng là khổ sanh, khổ già, khổ đau, khổ chết, khổ thương tiếc, khổ khóc than, khổ phiền muộn, khổ thất vọng, v.v… nhưng vẫn thản nhiên dường như không hay, không biết những sự thống khổ ấy, vẫn miệt mài theo ngũ trần lục dục, mê muội, không rõ lẽ hiệp tan của ngũ uẩn, cái khổ cho là vui, cái trược cho là trong sạch, cái chi vô thường cho là bền vững v.v…

− Không thấy, không biết tập đế (dukkha samudaye aññāṇaṃ) là lòng ái dục (có 3 hoặc 108) là nguyên nhân phát sanh các sự thống khổ.

− Không thấy, không biết diệt đế (dukkha nirodhe aññāṇaṃ) là nơi diệt tận các sự khổ.

− Không thấy, không biết đạo đế (dukkha nirodha gāminī paṭipadāya aññāṇaṃ) là con đường dắt dẫn đến nơi diệt tắt các sự khổ1Vô minh vừa giải trên là giải theo tạng kinh (Suttanta), còn giải theo tạng luận (Abhidhamma) thì có 8 điều: 4 điều về Tứ diệu đế đã giải và thêm: không biết rõ sự khởi thủy của ngũ uẩn (pubbante aññāṇaṃ), không biết rõ chỗ cuối cùng của ngũ uẩn (aparante aññāṇaṃ), không biết rõ sự khởi thì và cuối cùng của ngũ uẩn (pubbantāparante aññāṇaṃ), không biết rõ lý nhân quả liên quan (12 nhân duyên) (paṭiccasamupāde aññāṇaṃ)..

Màn vô minh bao trùm tất cả chúng sanh không cho thấy ánh sáng tức là trí tuệ thấy rõ, biết rõ những pháp chân thật, ví như gà con chưa nở, còn trong vỏ trứng không thể thấy ánh sáng mặt nhựt vậy. Ðến khi gà con đó cố gắng lấy mỏ soi vỏ trứng, lấy chân phá lỗ cho rộng, mới chui ra khỏi vỏ và thấy ánh sáng mặt trời được.

Ðức Phật là bậc tiên khởi phá tan vỏ trứng vô minh bao bọc tâm Ngài từ bao a-tăng-kỳ kiếp quá khứ, đắc được tuệ giác thông suốt các pháp diệu đế, rồi Ngài cần chuyên thực hành phận sự (Buddha kicca) không ngừng nghỉ cho đến lúc nhập Niết-bàn.

Phận sự của Đức Phật trong mỗi ngày có 5: buổi sáng trì bình khất thực (pubbanhe piṇḍapātaṃ), buổi xế thuyết Pháp độ đời (sāyaṇke dhammadesanaṃ), buổi chiều tối ban huấn từ cho hàng tỳ khưu (padose bikkhu ovādaṃ), trong lúc nửa đêm, trả lời những câu hỏi của Chư Thiên (aḍḍharatte devapañhanaṃ), gần rạng đông, Ngài xem coi chúng sanh nào có duyên lành hay không đặng đi đến tế độ (paccūseva gote kāle bhabbābhabbe vilokanaṃ).

3. Bậc đã thông suốt lý Tứ diệu đế.

Đức Thế Tôn đã thông suốt 4 pháp chân thật là Tứ diệu đế2Tứ diệu đế đã có giải phía trước, xin xem hiệu Sammāsambuddho. (Caturāriyasacca): khổ đế (dukkha sacca), tập đế (samudaya sacca), diệt đế (nirodha sacca), đạo đế (magga sacca).

− Lý (attha): mỗi diệu đế đều có 4 lý hoặc trạng thái hay năng lực.

Khổ đế có 4 lý: có năng lực hãm hại, phá hoại chúng sanh (pilanattho), có trạng thái do nguyên nhân (ái dục) cấu tạo nên (saṅkhatattho), có năng lực làm nóng nảy bực bội (santāpattho), có trạng thái luôn luôn thay đổi không bền vững (vipariṇāmattho).

Tập đế có 4 lý: có năng lực hội hợp các sự khổ để cho phát sanh lên (āyuhanattho); có trạng thái là nguyên nhân của sự khổ (có sự khổ là quả) (nidānattho); có năng lực cột trói (saṃyogattho), giam hãm chúng sanh trong tam giới (trong sự khổ); có năng lực làm bận rộn chúng sanh (palibodhanattho) trên con đường giác ngộ là không cho đắc đạo quả.

Diệt đế có 4 lý: có năng lực làm cho thoát khỏi phiền não (sự khổ) và ra khỏi tam giới (nissaraṇattho); có trạng thái yên lặng, lánh xa sự khổ (vivekattho); có trạng thái không do nguyên nhân tạo thành được (vô sanh) (asaṅkhatattho); có trạng thái không chết (bất diệt) (amatattho).

Ðạo Ðế có 4 lý: có năng lực đưa ra khỏi vòng sanh tử luân hồi (niyānattho), có tánh cách là nguyên nhân đưa đến Niết-bàn (hetvattho), có năng lực làm cho thấy rõ Niết-bàn (dassanattho), có tánh cách quan trọng trong các pháp hành cho thấy rõ Niết-bàn (adhipateyyattho).

− Tướng hoặc đặc tính (lakkhaṇa): Tứ diệu đế có 2 đặc tính: đặc tính hữu vi (saṅkhāta lakkhaṇa) và đặc tính vô vi (asaṅkhāta lakkhaṅa).

Ðặc tính hữu vi chia làm 3: tánh cách phát sanh lên (uppādo), tánh cách tiêu diệt (vayo), tánh cách trụ lại (thiti). Ðặc tính vô vi cũng chia làm 3: tánh cách không phát sanh lên (anuppādo), tánh cách không tiêu diệt (navayo), tánh cách không an trụ (naṭhiti).

Khổ đế, tập đế và đạo đế thuộc về đặc tính hữu vi, còn diệt đế thuộc về đặc tính vô vi.

− Sự (kicca).

Tứ diệu đế nếu chia ra pháp thiện (kusala) và pháp ác (akusala) và pháp không thiện không ác (abyākata), thì tập đế là pháp ác, đạo đế là pháp thiện, diệt đế là pháp không thiện không ác, khổ đế vừa là pháp thiện vừa là pháp ác và cũng là pháp không thiện không ác.

Khổ đế là pháp thiện đi đôi với đạo đế (pháp thiện), ý nói: khi người nào cố gắng học kinh và tham thiền hoặc hành 13 pháp đầu đà, hoặc chuyên cần làm những việc lành (bố thí, trì giới, v.v…) trong sự học hỏi và thực hành như thế, hằng có nhiều sự cam go cực nhọc gọi là khổ, nhưng những hành vi ấy đều là nghiệp lành, nên mới gọi khổ đế là pháp thiện.

Khổ đế là pháp ác đi đôi với tập đế (pháp ác), ý nói: khi người nào cố gắng làm những điều ác (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, v.v…), nhiều lúc phải chịu dầm mưa dãi nắng, tìm kiếm mưu kế để thỏa lòng dục vọng và luôn luôn có tâm lo sợ (sợ bị chê bai, bị hành phạt v.v…), như thế gọi là khổ. Lại nữa, những hành vi ấy đều là nghiệp ác, nên mới gọi khổ đế là pháp ác.

Khổ đế là pháp không thiện không ác đi đôi với diệt đế (pháp không thiện không ác), ý nói: các bậc đạo quả A-la-hán (Đức Phật, thinh văn,…) đều cố gắng thực hành tròn đủ phận sự cao thượng và thuyết Pháp phổ độ chúng sanh thật là mệt nhọc, nhưng không có phước báu (quả) chi cả3Những hành động về thân, khẩu, ý của bậc A-la-hán đều là nghiệp không có trả quả (ahosikamma)., nên mới gọi khổ đế là pháp không thiện không ác.

4. Quán tưởng về ngũ uẩn theo lý Tứ diệu đế.

Nếu quán tưởng về ngũ uẩn theo lý Tứ diệu đế, phải quán tưởng từng uẩn một. Ðầu tiên là sắc uẩn.

– Sự vui thích nào đã phát sanh lên do nơi sắc, gọi là sự vui thích của sắc. Ấy là tập đế, có thể giác ngộ được bằng sự dứt bỏ.

– Sắc không bền vững, là khổ não, luôn luôn thay đổi vô thường, gọi là tội lỗi của sắc phát sanh lên do nơi sắc. Ấy là khổ đế, có thể giác ngộ được bằng sự nhận thức.

– Sự dứt bỏ được tâm ham muốn trong sắc, gọi là thoát ly khỏi sắc. Ấy là diệt đế, có thể giác ngộ được bằng cách làm cho rõ rệt.

Bát chánh đạochánh kiến (là thấy biết chân chánh trong 3 nhân) là đầu, gọi là đạo đế, có thể giác ngộ được bằng phép niệm tưởng.

Nên quán tưởng thêm về thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, y theo phương pháp đã giải trên về sắc uẩn.

5. Quán tưởng nhân quả liên quan theo lý Tứ diệu đế.

Pháp “nhân quả liên quan” (thập nhị nhân duyên) (paṭicca samuppāda) có 12 chi nương nhau và liên hệ với nhau. Chi này là nhân của chi sau và cũng là quả của chi trước, ví như một sợi dây xích có 12 khoen liền nhau, khoen này là quả của khoen trước và cũng là nhân để nối liền với khoen sau4Xin xem giải rộng chi tiết trong quyển Nhân Quả Liên Quan của Ðại đức Bửu Chơn..

12 chi là: vô minh (avijjā) sanh ra hành; hành (saṅkhāra) sanh ra thức; thức (viññāṇa) sanh ra danh sắc; danh sắc (nāma rūpa) sanh ra lục căn; lục căn (salāyatana) sanh ra xúc; xúc (phassa) sanh ra thọ; thọ (vedanā) sanh ra ái; ái (taṇhā) sanh ra thủ; thủ (upādanā) sanh ra hữu; hữu (bhava) sanh ra sanh; sanh (jāti) sanh ra lão, tử (jarā maranaṃ); luôn cả sự thương tiếc, khóc than, khó chịu, phiền muộn v.v… là những sự thống khổ cùng phát sanh lên với già, chết thành ra chi thứ 12.

Nếu quán tưởng 12 nhân duyên ấy theo lý Tứ diệu đế thì:

– Lão, tử là khổ đế, sanh là tập đế, sự thoát ly lão, tử và sanh là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Sanh là khổ đế, hữu là tập đế, sự thoát ly khỏi sanh và hữu là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Hữu là khổ đế, thủ là tập đế, sự thoát ly khỏi hữu và thủ là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Thủ là khổ đế, ái là tập đế, sự thoát ly khỏi thủ và ái là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Ái là khổ đế, thọ là tập đế, sự thoát ly khỏi ái và thọ là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Thọ là khổ đế, xúc là tập đế, sự thoát ly khỏi thọ và xúc là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Xúc là khổ đế, lục căn là tập đế, sự thoát ly khỏi xúc và lục căn là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Lục căn là khổ đế, danh sắc là tập đế, sự thoát ly khỏi lục căn và danh sắc là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Danh sắc là khổ đế, thức là tập đế, sự thoát ly khỏi danh sắc và thức là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Thức là khổ đế, hành là tập đế, sự thoát ly khỏi thức và hành là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

– Hành là khổ đế, vô minh là tập đế, sự thoát ly khỏi hành và vô minh là diệt đế, tuệ biết rõ diệt đế là đạo đế.

Những sự thống khổ do già, chết, thương tiếc, khóc than, khổ não, phiền muộn, khó chịu, bực tức, thất vọng v.v… gọi là khổ đế. Ðức Phật đã thấy biết tường tận tinh vi vô minh và ái dục là hai gốc (mūla) của bánh xe nhân quả, là nguồn cội của luân hồi, là nguyên nhân phát sanh sự khổ, gọi là tập đế. Do nhờ Thánh đạo, Ngài đã cắt đứt (diệt tận) cả hai gốc rễ ấy. Vô minh và ái dục đã bị diệt rồi, thì các pháp khác là hành, thức, danh sắc,… cũng bị diệt theo và bánh xe nhân quả cũng ngừng xoay. Sự diệt tận ấy gọi là diệt đế. Do nhờ thiền định và minh sát, Ngài đã làm cho rõ rệt con đường đi đến nơi diệt khổ, gọi là đạo đế.

Sau khi giác ngộ, thông suốt lý Tứ diệu đế rồi, Ngài đem ra giáo hóa chúng sanh cùng biết, hầu thực hành theo để diệt tận các sự thống khổ và được giải thoát cũng như Ngài.

Lại nữa, đức Ðại bi có hiệu là Buddho (Phật) cũng do nhờ những ân đức sau đây:

1. Ngài đã thấy rõ tất cả những điều kinh khủng (sabbadassāvitā buddho) trong quá khứ, vị lai và hiện tại (ý nói các điều kinh sợ mà chúng sanh phải chịu khi sa vào bốn ác đạo là súc sanh, ngạ quỉ, a-tu-la, địa ngục (duggati bhaya).

2. Ngài không còn trong tâm ba pháp trầm luân (khinasavasankhatena buddho) là trầm luân trong ngũ trần (kāmāsava), trầm luân trong tam giới (bhavāsava) và trầm luân trong vô minh (avijjāsava).

3. Ngài đã xa lìa 10 phiền não (nirupakilesaṅkhātena buddho) là tham, sân, si, ngã mạn, kiến thức (tà kiến), hoài nghi, phóng tâm, tâm dụ dự uể oải, không hổ thẹn tội lỗi, không ghê sợ tội lỗi.

4. Ngài đã đi theo con đường chân chánh chỉ có một (ekāyamaggaṃ gatoti) là con đường trung đạo (majjhimāpaṭipadā) để đến đích là Niết-bàn.

5. Ngài là bậc đã tự mình giác ngộ chân chánh (eko anuttarasammāsambodhiṃ abhisambuddho), thông suốt 10 huệ lực (dasabalaññāṇa)510 Huệ lực của Ðức Phật: huệ biết rõ nguyên nhân hay không phải nguyên nhân đúng theo chân lý (thānāthānaññāṇa); huệ biết rõ cái quả của nghiệp (thiện hay ác) đã tạo (vipākaññāṇa); huệ biết rõ hành vi thế nào đưa chúng sanh đến cảnh giới vui hay khổ (sabbathagāmimaggaññāṇa); huệ biết tất cả nguyên chất khác nhau (nānādhātuññāṇa); huệ biết rõ trình độ của chúng sanh thấp hèn hay cao thượng (nānādhimuttiññāṇa); huệ biết rõ căn cơ chúng sanh khác nhau (indriyaparopariyataññāṇa); huệ biết rõ điều nhơ bẩn hay trong sạch của các cõi thiên và sự giải thoát (jhānādiññāṇa); huệ biết rõ những tiền kiếp của mình và chúng sanh (pubbenivāsaññāṇa); huệ biết rõ sanh tử luân hồi của chúng sanh do theo nghiệp (lành hay ác) (cutūpapātaññāṇa); huệ biết rõ các pháp trầm luân và diệt tắt không còn dư sót (āsavakkhayaññāṇa). và tuệ thông hiểu tất cả các pháp hữu vi và vô vi không dư sót (sabbaññutañāṇa – diệu giác viên minh), không có Chư Thiên và Phạm Thiên nào sánh bằng.

Do nhờ những ân đức cao quí vừa kể trên, nên Đức Phật có hiệu là Buddho (Phật).


Ghi chú:

  • 1
    Vô minh vừa giải trên là giải theo tạng kinh (Suttanta), còn giải theo tạng luận (Abhidhamma) thì có 8 điều: 4 điều về Tứ diệu đế đã giải và thêm: không biết rõ sự khởi thủy của ngũ uẩn (pubbante aññāṇaṃ), không biết rõ chỗ cuối cùng của ngũ uẩn (aparante aññāṇaṃ), không biết rõ sự khởi thì và cuối cùng của ngũ uẩn (pubbantāparante aññāṇaṃ), không biết rõ lý nhân quả liên quan (12 nhân duyên) (paṭiccasamupāde aññāṇaṃ).
  • 2
    Tứ diệu đế đã có giải phía trước, xin xem hiệu Sammāsambuddho.
  • 3
    Những hành động về thân, khẩu, ý của bậc A-la-hán đều là nghiệp không có trả quả (ahosikamma).
  • 4
    Xin xem giải rộng chi tiết trong quyển Nhân Quả Liên Quan của Ðại đức Bửu Chơn.
  • 5
    10 Huệ lực của Ðức Phật: huệ biết rõ nguyên nhân hay không phải nguyên nhân đúng theo chân lý (thānāthānaññāṇa); huệ biết rõ cái quả của nghiệp (thiện hay ác) đã tạo (vipākaññāṇa); huệ biết rõ hành vi thế nào đưa chúng sanh đến cảnh giới vui hay khổ (sabbathagāmimaggaññāṇa); huệ biết tất cả nguyên chất khác nhau (nānādhātuññāṇa); huệ biết rõ trình độ của chúng sanh thấp hèn hay cao thượng (nānādhimuttiññāṇa); huệ biết rõ căn cơ chúng sanh khác nhau (indriyaparopariyataññāṇa); huệ biết rõ điều nhơ bẩn hay trong sạch của các cõi thiên và sự giải thoát (jhānādiññāṇa); huệ biết rõ những tiền kiếp của mình và chúng sanh (pubbenivāsaññāṇa); huệ biết rõ sanh tử luân hồi của chúng sanh do theo nghiệp (lành hay ác) (cutūpapātaññāṇa); huệ biết rõ các pháp trầm luân và diệt tắt không còn dư sót (āsavakkhayaññāṇa).