Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Ứng Cúng (Arahaṃ)

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
THERAVĀDA

—–

ÂN ĐỨC PHẬT BẢO
(BUDDHA GUṆA)

Cố vấn
Nāga Mahā Thera – Trưởng lão Bửu Chơn

Phiên dịch
Cư sĩ Huỳnh Thanh Long

 Dl. 2506 – Pl.1962

Tại sao Đức Phật có hiệu là Arahaṃ (Tàu âm là A-la-hán, dịch là Ứng Cúng)? Bởi Ngài là: bậc đã xa lìa (araka), bậc đã phá tan bánh xe luân hồi (hata), bậc xứng đáng (araha), bậc không nơi khuất lấp (rahābhāva).

Giải rằng:

1. Bậc đã xa lìa.

Ðức Phật đã xa lìa tất cả phiền não là những điều làm cho tâm bợn nhơ và dắt dẫn chúng sanh luân hồi mãi trong vòng lục đạo.

Ba phiền não trọng đại là: tham lam (lobha) là pháp làm cho tâm dính mắc, sân hận (dosa) là pháp làm cho tâm nóng nảy ưu phiền, si mê (moha) là pháp làm cho tâm lầm lạc. Ba phiền não này là nguồn cội của tất cả phiền não khác, ví như một cây to có 3 nhánh lớn đâm chồi nảy lá ra khắp tứ phía vậy (xin xem các “phiền não” có kể đại khái riêng biệt sau phần giải hiệu Arahaṃ).

Tất cả điều chướng ngại là phiền não, không còn mảy may nào trong thâm tâm Đức Phật, vì Ngài đã trau dồi thân tâm được hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh bằng giới, định, huệ và bằng thánh đạo, thánh quả và Niết-bàn. Ví như người thợ làm tên, lấy một khúc cây trong rừng đem về lột vỏ, gọt đẽo cho xong rồi thoa dầu, hơ lửa, uốn bằng nõ cho trở nên ngay thẳng, nhiên hậu mới được những cây tên rất tốt và ngay thẳng. Cũng như thế ấy, Ngài đã lột vỏ cái tâm hằng bị xao động, cho tiêu hoại cả phiền não, nhờ sự ẩn tu nơi rừng vắng là tu hạnh đầu đà, rồi thoa dầu là đức tin (saddhā), đốt hơ bằng sự tinh tấn (viriya), uốn bằng nõ là phép chỉ quán (sammatha) và minh sát (vipassanā), làm cho tâm trở nên ngay thẳng, diệt trừ các nghiệp dữ. Kế tiếp, Ngài suy nguyên thấy rõ căn bản của nghiệp thiện và nghiệp ác là những pháp hành (saṅkhāra) đoạn tuyệt vô minh (avijjā), đắc ba cái giác (vijjā)13 cái giác (hoặc minh) và 6 cái thông: xin xem giải rộng trong hiệu “Vijjācaranasampanno” (Minh Hạnh Túc) phía sau., sáu cái thông (abhiññā), bốn huệ phân tích (paṭisamdhidā)24 cái huệ phân tích: huệ biết rõ cái quả hay cái lý (là thông suốt cả nghĩa lý của chú giải tóm tắt) (atthapaṭisambhidā); huệ biết rõ cái nhân hay thông suốt cả các Pháp (dhammapaṭisambhidā); huệ biết rõ ngữ căn hay thông suốt các thứ tiếng (niruttipaṭisambhidā); huệ phân tích rõ ràng và mau lẹ tất cả sự vật (paṭibhāṇapaṭisambhidā)., chín pháp thánh (lokuttāra dhamma)39 Thánh Pháp: Tu-đà-huờn đạo, Tu-đà-huờn quả, Tư-đà-hàm đạo, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm đạo, A-na-hàm quả, A-la-hán đạo, A-la-hán quả, Niết-bàn., và liễu chứng bậc vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lại nữa, chẳng những đã thắng tất cả quân thù là các phiền não trọng đại và vi tế mà thôi, Ngài lại dứt được luôn các tiền khiên tật, là những thói quen của thân, khẩu, ý nữa.

2. Bậc đã phá tan

Ðức Phật đã phá tan, bẻ gãy bánh xe luân hồi và không còn tái sanh nữa.

Ta có thể ví dụ “bánh xe luân hồi” (samsaracakka) gồm có: vô minh (avijjā) làm đùm, ba pháp hành (saṅkhāra)43 pháp hành là: hành thiện (puññābhi saṅkhāra); hành ác (apuññābhi saṅkhāra); hành điềm tĩnh không lay động (āneñjābhi saṅkhāra). làm căm, sự già và sự chết (lão, tử) (jarā maraṇaṃ) làm vành, 29 tác ý (cetanā) là 12 tác ý ác (akusala cetanā)5Xin xem giải rộng trong quyển “Vi Diệu Pháp” vấn đáp của Ðại đức Hộ Tông., 8 tác ý đại thiện (māhākusala), 5 tâm lành trong Sắc giới (kūpāvacara kusala), 4 tâm lành trong Vô Sắc giới (arūpāvacara kusala) làm đầu căm tra vào đùm. Bánh xe ấy ráp vào thùng xe là tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới), làm thành bánh xe luân hồi.

Trong tam giới ví như cái thùng xe vì tam giới là nơi sanh và trú của chúng sanh. Bốn pháp trầm luân (āsava)64 pháp trầm luân là: trầm luân trong ái dục (ngũ trần) (kāmasavo); trầm luân trong tam giới (bhāvāsavo); trầm luân trong kiến thức (diṭṭhāvaso); trầm luân trong vô minh (avijjāsavo). ví như cái gọng xe vì các pháp ấy là chủ động, hằng lôi kéo chúng sanh đến chỗ sanh và chỗ diệt. Vô minh ví như cái đùm xe vì vô minh là nơi quy hội của các nhân duyên. Sự già và sự chết ví như vành xe vì hằng lăn tròn đi tới và đưa chúng sanh từ cảnh này đến cảnh khác. Ba pháp hành ví như căm bánh xe là vì bị sự sanh và sự chết bao chung quanh.

Ðức Phật đứng vững vàng hai chân là sự tinh tấn (viriya), trên mặt đất bằng phẳng là giới (sīla), dùng hai tay là đức tin (saddhā), cầm cây gươm bén là trí tuệ (paññā), chặt rã, phá tan từng mảnh cái xe luân hồi ấy dưới cội bồ đề, từ đây không còn chở Ngài quanh quẩn trong ba cõi, sáu đường được nữa.

Hoặc giả, nếu lấy Thập nhị nhân duyên làm tượng trưng cho “bánh xe luân hồi”, thì vô minh làm đùm, lão, tử làm vành, 10 nhân duyên kia (hành, thức, danh sắc, lục căn, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh) là căm.

Ðức Phật thấy rõ, hiểu biết tường tận lý “Nhân quả liên quan7Xin xem giải rộng trong quyển “Nhân Quả Liên Quan” của Ðại đức Bửu Chơn. gồm có 12 chi (aṅga), 3 thời kỳ (addhā), 20 thể (ākāra), 3 chỗ nối liền (sandhi), 4 chỗ tóm tắt (saṅkhepa), 3 sự luân chuyển (vaṭṭa) và 2 gốc (mūla). Trong khi nhập đại định trọn 7 ngày đêm dưới cội bồ đề, Ngài đã xem xét thật vi tế sự sanh và sự diệt tắt của mỗi nhân duyên, xem thuận, rồi xem nghịch, cho đến khi phát sanh trí tuệ thấy rõ các pháp hữu vi đều do nguyên nhân mà sanh ra, khi nguyên nhân bị diệt đi thì các pháp ấy cũng diệt tắt theo. Khi thấy rõ như thế rồi, Ngài đắc đạo quả Niết-bàn, được giải thoát các sự thống khổ, phá tan bánh xe sanh tử luân hồi.

3. Bậc xứng đáng.

− Đức Phật là đấng toàn trí toàn thiện, rất xứng đáng cho Chư Thiên và nhân loại lễ bái cúng dường. Ngài là phước điền quí báu cao thượng nhứt của chúng sanh.

Sự cúng dường ấy, chẳng luận vật cúng ít hay nhiều, hèn hạ hoặc cao quí, chẳng luận thí chủ là bậc vua chúa oai quyền hoặc là hạng cùng đinh nghèo khó, hằng được phước báu vô lượng nếu tín thí có đức tin vững chắc là tin lý nhân quả và có tâm lành đầy đủ tác ý83 tác ý là: tác ý trong sạch đầu tiên toan tính (pubbacetanā); tác ý trong sạch khi đang dâng cúng (muññcana cetanā); tác ý thỏa thích sau khi dâng cúng (aparāparacetanā). trong sự cúng dường.

Trong kinh Dīpanī có câu: “Tiddhante nibbute cāpisanaṃ cettaṃ samebhale”, nghĩa là: “Khi Phật còn tại thế hay sau khi đã nhập Niết-bàn rồi, nếu có thiện nhân nào có tâm trong sạch đồng nhau cúng dường đến Phật cũng được sự phước báu như lúc Ngài còn tại thế vậy”. Như thế, ta nên tin tưởng rằng dầu khi đức Thế Tôn còn tại thế, hay sau khi Ngài nhập diệt rồi cũng vậy, quả phước phát sanh do sự cúng dường đến Ngài hoặc đến tháp thờ xá lỵ của Ngài, cũng đồng nhau không kém, miễn là thí chủ có đức tin trong sạch và chú tâm lành trong sự phước thiện đồng nhau.

Trong kinh có chép lại rất nhiều sự tích về sự lễ bái cúng dường đức Thế Tôn. Từ các hàng Chư Thiên như Phạm Thiên Sahampati cúng dường Ngài một tràng hoa bằng ngọc to lớn như núi Tu Di (Sineru), đức Ðế Thích (Sakka), Tứ Ðại Thiên Vương (Cātumāhārājā), vv…, các bậc hoàng đế đồng thời với Ngài như vua Tân-Bà-Sa (Bimbisāra), vua Ba-Tư-Nặc (Pasenadi)…, các bậc đại phú hộ như trưởng giả Cấp-Cô-Ðộc (Anāthapindika), bà Vi-Sa-Kha (Visākhā), vv…, đến các hạng cùng đinh nghèo khổ như nàng Sumana Mālā dâng bông lài, thầy bà-la-môn Culekasātaka dâng khăn choàng, vv… Một thế kỷ sau khi đức Thế Tôn nhập diệt, hoàng Ðế A-Dục (Asoka) xuất của kho ra chín mươi sáu triệu đồng vàng cúng dường Tam bảo và cho xây cất tám mươi bốn ngàn thánh tháp trong toàn cõi Ấn Ðộ.

Nên nói thêm rằng: chẳng những Đức Phật là bậc siêu nhân cao thượng xứng đáng cho chúng sanh lễ bái cúng dường mà còn các bậc Thánh nhân khác (Thinh văn) A-la-hán, A-na-hàm v.v…. đã diệt tận phiền não hay còn chút ít phiền não nơi tâm, hoặc các hạng phàm nhân có giới đức, tu hành chân chánh theo Giáo Pháp của đức Thế Tôn, cũng là những bậc đáng thọ lãnh vật cúng dường của tín thí vậy.

− Một điều nữa, Đức Phật là bậc xứng đáng giảng dạy kinh luật, giáo hóa chúng sanh vì Ngài đã diệt tận tất cả phiền não chướng ngại, nên kinh luật mà Ngài đã chỉ giải, chế định toàn là đúng đắn, chân thật, chỉ nhắm vào sự lợi ích của quần sanh, Ngài không vì 4 điều tư vị (agati)94 điều tư vị là: thiên vị vì thương (chandāgati); thiên vị vì giận ghét (dosāgati); thiên vị vì si mê (mohāgati); thiên vị vì sợ (bhayāgati). mà giảng kinh, định luật, nói Pháp độ đời.

4. Bậc không nơi khuất lấp.

Ðức Phật là đấng trọn lành, đã diệt tận phiền não nên thân, khẩu, ý của Ngài hoàn toàn trong sạch thanh tịnh, trước mặt người hoặc nơi khuất lấp, xa tai cách mặt người, Ngài cũng không hề làm, nói và tưởng điều tội lỗi, dầu là nhỏ nhen chút ít.

Không như những hạng thường nhân tự cho mình là “Giáo chủ”, là “Bồ tát”, là “Thánh nhân”, vv…, trước mặt người tỏ ra đạo mạo nghiêm trang như là bậc giới hạnh chân chánh, hiền từ, đạo đức, nhưng sau lưng người, xa tai cách mắt thiên hạ thì hằng làm nhiều điều tội lỗi xấu xa không chút lòng hổ thẹn.

Do nhờ, những ân đức cao quí vừa giải phía trên, nên Ngài có hiệu là “Arahaṃ” (Ứng Cúng).

Phần kể riêng các phiền não mà Đức Phật đã xa lìa:

1. Phiền não (kilesa): có 3 gọi là tam độc: tham (lobha), sân (dosa), si (moka).

2. Pháp trầm luân (āsava) có 3: trầm luân trong ngũ dục (kāmāsava), trầm luân trong kiến thức (tà kiến) (diṭṭhāsava), trầm luân trong vô minh (avjjāsava).

3. Điều lầm lạc (vipallāsa) có 3: tư tưởng lầm lạc (saññāvipallāsa), tâm lầm lạc (citta vipallāsa), kiến thức lầm lạc (diṭṭhi vipallāsa).

4. Pháp ngủ ngầm (anusaya) có 3: tình dục ngủ ngầm (kāmarāgānusaya), kiến thức ngủ ngầm (tà kiến) (diṭṭhānusaya), vô minh ngủ ngầm (avijjānusaya).

5. Tư vị (agati) có 4: tư vị vì thương (chandāgati), tư vị vì giận ghét (dosāgati), tư vị vì si mê (mohāgati), tư vị vì sợ (bhayāgati).

6. Ðiều buộc ràng (gantha) có 4: buộc ràng vì tâm xan tham (abhijjhāya gantha), buộc ràng vì tâm thù oán, mong hại người (byāpādakāya gantha), buộc ràng vì tập quán, vì chấp lệ cúng tế ((sīlabbattaparāmāsakāya gantha), buộc ràng vì chấp ý kiến của ta là chân chánh, chắc thật, còn của người khác là sai lầm (idamsaccābhinivesakāya gantha).

7. Vực thẳm (ogha) có 4: vực thẳm ngũ trần (kāmogha), vực thẳm tam giới (bhavogha), vực thẳm kiến thức (tà kiến) (diṭṭhogha), vực thẳm vô minh (avijjogha).

8. Cố chấp (Upādāna) có 4: cố chấp trong ngũ dục (kāmupādāna), cố chấp trong kiến thức (tà kiến) (diṭṭhupādāna), cố chấp trong tập quán, trong lệ cúng tế (Thần thánh) (sīlabbāttupādāna), cố chấp trong thân này có bản ngã (attavādupādāna).

9. Bỏn xẻn (macchariya) có 5: bỏn xẻn chỗ ở (āvāsa macchariya), bỏn xẻn về gia quyến, môn đồ, đảng phái (kula macchariya), bỏn xẻn về sự khen tặng và sắc tốt (vaṇṇa macchariya), bỏn xẻn lợi lộc (lābha macchariya), bỏn xẻn giáo Pháp (dhamma macchariya).

10. Pháp ngủ ngầm (anusaya) trong tâm có 7: tình dục ngủ ngầm (kāmarāgānusaya), mê thích tam giới ngủ ngầm (bhavarāgānusaya), bất bình ngủ ngầm (paṭighānusaya), cống cao ngã mạn ngủ ngầm (mānānusaya), kiến thức (tà kiến) ngủ ngầm (diṭṭhānusaya), hoài nghi ngủ ngầm (vicikicchānusaya), vô minh ngủ ngầm (avijjānusaya).

11. Pháp thế gian (lokadhamma) có 8: được lợi (lābho), thất lợi (alābho), được danh (yaso), thất danh (ayaso), bị chê (nindā), được khen (pasamsā), được vui (sukho), bị khổ (dukkho).

12. Pháp nhơ bẩn (mandila) có 9: hờn giận (kodha), bạc ơn (makkha), ganh tị (issā), bỏn xẻn (macchariya), làm bộ, giả dối (māyā), khoe khoang (sātheyya), nói láo (musā), tham muốn những điều xấu xa tội lỗi (pāpicchā), tà kiến (micchādiṭṭhi).

13. Pháp tà vạy (micchatta dhamma) có 10: tà kiến (micchā diṭṭhi), tà tư duy (micchā saṅkappo), tà ngữ (micchā vācā), tà nghiệp (micchā kammanto), tà mạng (micchā ājivo), tà tinh tấn (micchā vāyāmo), tà niệm (micchā sati), tà định (micchā samādhi), tà huệ (micchā ñāṇaṃ), tà giải thoát (micchā vimutti).

14. Nghiệp ác (akusalakammapatha) có 10 gọi là “thập ác”: sát sanh (pānātipato), trộm cắp (adinnādānaṃ), tà dâm (kāmesu micchācāro), nói dối (musāvādo), nói đâm thọc (pisunāvācā), nói lời độc ác (chửi rủa) (pharusavācā), nói lời vô ích, viển vông (samphappalāpo), tham lam (abhijjhā), thù oán mong hại người (byāpāda), tà kiến (micchādiṭṭhi).

15. Pháp thằng thúc (samyojana) có 10: thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), hoài nghi (về nhân và quả) (vicikicchā), chấp theo lệ cúng tế (Thần thánh), chấp theo tập quán (giới cấm thủ) (sīlabbataparāmāsa), vui thích tình dục (kāmacchanda), thù oán, mong hại người (byāpāda), mê thích trong cảnh sắc (rūparāga), vui thích cảnh vô sắc (arūparāga), ngã mạn, cống cao (māna), phóng tâm (uddhacca), vô minh (avijjā).

16. Phiền não (kilesa) có 10: tham (lobha), sân (dosa), si (moha), ngã mạn, cống cao (manā), kiến thức (tà kiến) (diṭṭhi), hoài nghi (về nhân quả, …) (vicikicchā), tâm dụ dự, uể oải, buồn ngủ (thīna), phóng tâm (uddhacca), không hổ thẹn tội lỗi (ahirika), không ghê sợ tội lỗi (anottappa).

17. Tâm ác (akusalacittuppāda) có 12: 8 tâm xan tham (mobhamūla), 2 tâm sân hận (dosamūla), 2 tâm si mê (mohamūla). (Xin xem giải rộng 12 ác tâm trong quyển “Vi diệu Pháp” của Ðại đức Hộ tông).

18. Tâm ái dục (tanhā) có 108.

Nếu kể tóm tắt thì tâm ái dục có 3 là: ái dục trong cõi Dục giới (kāmataṇhā), ái dục trong sự muốn sanh về cõi sắc (bhavataṇhā), ái dục muốn sanh về cõi Vô Sắc giới (vibhavataṇhā). Lấy 3 tâm ái dục ấy nhơn cho 6 căn (nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý) thành 18 nội tâm ái dục. Lấy 3 tâm ái dục ấy nhơn cho 6 trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) thành 18 ngoại tâm ái dục. Cộng lại thành (18 + 18) = 36 tâm ái dục. 36 tâm ái dục quá khứ + 36 tâm ái dục vị lai + 36 tâm ái dục hiện tại = 108 tâm ái dục

19. Phiền não (kilesa) có 1500.

Nếu kể tóm tắt thì phiền não có 10 (xem phía trước).

Nếu kể 1500 phiền não thì tính theo phương pháp sau đây: lấy 1 trong 81 tâm phàm (lokiyacitta) + 52 tánh (citasika) + 18 thành lập sắc (nipphanna rūpa)10Nipphannarūpa tạm dịch là “thành lập sắc” là sắc đã tạo lập phát sanh lên rồi. Có 18: đất, nước, lửa, gió, nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, sắc (cảnh), thinh, hương, vị, xúc, nữ căn, nam căn, tâm chất (căn của tim), mạng căn. + 1 hư không (ākāsa) + 1 sanh (jāti) + 1 già (jarā) + 1 tiềm thức (bhavaṅga) = 75 phiền não. Chia ra 75 phiền não bên trong + 75 phiền não bên ngoài , cộng chung thành 150 phiền não. Ðem nhơn cho 10 phiền não (kilesa) đã kể phía trước (150 x 10) thành 1500 phiền não.


Ghi chú:

  • 1
    3 cái giác (hoặc minh) và 6 cái thông: xin xem giải rộng trong hiệu “Vijjācaranasampanno” (Minh Hạnh Túc) phía sau.
  • 2
    4 cái huệ phân tích: huệ biết rõ cái quả hay cái lý (là thông suốt cả nghĩa lý của chú giải tóm tắt) (atthapaṭisambhidā); huệ biết rõ cái nhân hay thông suốt cả các Pháp (dhammapaṭisambhidā); huệ biết rõ ngữ căn hay thông suốt các thứ tiếng (niruttipaṭisambhidā); huệ phân tích rõ ràng và mau lẹ tất cả sự vật (paṭibhāṇapaṭisambhidā).
  • 3
    9 Thánh Pháp: Tu-đà-huờn đạo, Tu-đà-huờn quả, Tư-đà-hàm đạo, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm đạo, A-na-hàm quả, A-la-hán đạo, A-la-hán quả, Niết-bàn.
  • 4
    3 pháp hành là: hành thiện (puññābhi saṅkhāra); hành ác (apuññābhi saṅkhāra); hành điềm tĩnh không lay động (āneñjābhi saṅkhāra).
  • 5
    Xin xem giải rộng trong quyển “Vi Diệu Pháp” vấn đáp của Ðại đức Hộ Tông.
  • 6
    4 pháp trầm luân là: trầm luân trong ái dục (ngũ trần) (kāmasavo); trầm luân trong tam giới (bhāvāsavo); trầm luân trong kiến thức (diṭṭhāvaso); trầm luân trong vô minh (avijjāsavo).
  • 7
    Xin xem giải rộng trong quyển “Nhân Quả Liên Quan” của Ðại đức Bửu Chơn.
  • 8
    3 tác ý là: tác ý trong sạch đầu tiên toan tính (pubbacetanā); tác ý trong sạch khi đang dâng cúng (muññcana cetanā); tác ý thỏa thích sau khi dâng cúng (aparāparacetanā).
  • 9
    4 điều tư vị là: thiên vị vì thương (chandāgati); thiên vị vì giận ghét (dosāgati); thiên vị vì si mê (mohāgati); thiên vị vì sợ (bhayāgati).
  • 10
    Nipphannarūpa tạm dịch là “thành lập sắc” là sắc đã tạo lập phát sanh lên rồi. Có 18: đất, nước, lửa, gió, nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, sắc (cảnh), thinh, hương, vị, xúc, nữ căn, nam căn, tâm chất (căn của tim), mạng căn.