Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Ân Đức Tăng Bảo (Saṅgha Guṅa)

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
THERAVĀDA

—–

ÂN ĐỨC TĂNG BẢO
(SAṄGHA GUṆA)

Phiên dịch

Tỳ khưu Bửu Chơn
(Nāga Mahā Thera)

Dl. 1974 – Pl.2517

Vấn: Từ ngữ “Saṅgha – Tăng đoàn” có ý nghĩa như thế nào? Có mấy hạng? Có bao nhiêu ân đức?

Đáp: Từ ngữ “Saṅgha – Tăng đoàn” có ý nghĩa là “Nhóm” hoặc “Hội chúng”. Có hai hạng là “Sammati Saṅgha – Phàm Tăng” là một nhóm tỳ kheo tăng từ bốn vị tu sĩ xuất gia trở lên để hành tăng sự, và chưa chứng đắc Thánh đạo Thánh quả. Và “Ariya Saṅgha – Thánh tăng” là một nhóm tỳ kheo đã chứng đắc Thánh đạo Thánh quả.

Tăng đoàn có nghĩa là “gần nhau” là vì các bậc Thánh nhân cho dù ở xa cách nhau, ở xứ này hay xứ nọ, khác biệt nhau về dòng giống, nhưng cũng gọi là gần nhau, vì chỉ có một khuôn khổgiới đức và kiến thức tương tự như nhau. Hơn nữa, Tăng đoàn có nghĩa là “người đào tận phiền não”, bởi vì các vị ấy cố gắng đào bới các gốc rễ phiền não, nhứt là tham dục cho thoát khỏi ở nơi thân tâm. Tăng đoàn nếu chia theo hạng Thinh văn thì có hai thể loại, là Phàm Thinh văn (Puthujjana Sāvaka) và Thánh Thinh văn (Ariya Sāvaka). Nhóm người chỉ nghe những huấn từ của Đức Phật hay là của các hàng Thinh văn đệ tử Phật, nhưng vẫn chưa chứng đức đạo quả, chỉ có đức tin thuần túy và đã quy y Tam bảo, gọi là Phàm Thinh văn. Còn nhóm người khi được Giáo pháp của Đức Phật hoặc được nghe từ bậc Thinh văn đệ tử Phật, rồi được chứng đắc đạo quả ngay trong lúc đang thính pháp hoặc được thính pháp xong, đem ra thực hành trong một thời gian sau đó, rồi chứng đắc đạo quả, gọi là Thánh Thinh văn. Hàng chư tăng ấy có rất nhiều ân đức, nhứt là “supaṭipanno” các ngài đã thực hành rất tốt đẹp.

Vấn: Thế nào gọi là thực hành rất tốt đẹp? 

Đáp: Các ngài đã thực hành đúng theo chánh pháp, thực hành không trở lui lại, thực hành cho đến Niết-bàn, thực hành không trái nghịch và thực hành theo Giáo pháp.

Vấn: Như thế nào gọi là thực hành đúng theo Chánh pháp? 

Đáp: Là khi đã thực hành cho đến thành bậc Thánh nhân thì không khi nào lùi trở lại làm bậc phàm nhân được.

Vấn: Như thế nào gọi là thực hành cho đến Niết-bàn? 

Đáp: Là thực hành theo thiền minh sát cho đến tuệ thuận tùng xuôi theo chiều Niết-bàn.

Vấn: Như thế nào gọi là thực hành không trái nghịch? 

Đáp: Là thực hành không trái nghịch lại với Niết-bàn.

Vấn: Như thế nào gọi là thực hành theo Giáo pháp?

Đáp: Là thực hành đúng theo Giáo pháp “Dhammānudhammappaṭipadā – Pháp tùy thuận Giáo pháp, là con đường đi Niết-bàn. Vì lẽ các ngài thực hành cho đến đạo quả, nên gọi là thực hành theo Giáo pháp. Hơn nữa, chư tăng thực hành theo huấn từ của Đức Phật đã giảng dạy, không sai trật chút nào, gọi là thực hành tốt đẹp. Lại nữa, các ngài lấy giới luật làm hàng rào để ngăn ngừa kẻ nghịch là điều tội lỗi và phiền não. Lấy định làm nền tảng để chế ngự các pháp ác xâm nhập vào các tâm thiện. Lấy trí tuệ làm ngọn đèn soi sáng bên trong các pháp hữu vi, nhứt là ngũ uẩn cho thấy rõ là vô thường, khổ đau, vô ngã, và làm cho trí tuệ sắc bén để diệt tận các pháp ngủ ngầm trong tâm rất vi tế. Với bậc tu tập hạng thấp thì các ngài cũng chứng đắc Thất lai quả và diệt được ba hạ phần kiết sử (samyojana) là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Do tự mình thấy rõ sự thanh tịnh duyên bởi tam vô lậu học là giới, định, tuệ, nên được gọi là thực hành tốt đẹp.

Vấn: Từ ngữ “Ujupatipanno” có nghĩa như thế nào?

Đáp: Là thực hành không nghiêng ngả, nương theo con đường trung đạo, trực chỉ thẳng đến Niết-bàn, không ngả nghiêng pháp lợi dưỡng (kāmasukhallikānuyoga), không ngả nghiêng theo pháp khổ hạnh (attakilamathānuyoga), tất cả đều là con đường sai trật và không thể đến Niết-bàn. Hơn nữa, các ngài thực hành chân chánh để dứt bỏ sự cứng rắn, sự nghịch ngợm, quanh co, gian xảo của thân, lời, ý, nên được gọi là thực hành chân chánh.

Vấn: Từ ngữ “Nāyapatipanno” có nghĩa như thế nào? 

Đáp: Là các ngài thực hành cho được giác ngộ Niết-bàn.

Vấn: Như thế nào gọi là thực hành cho được giác ngộ Niết-bàn? 

Đáp: Là thực hành đúng theo Chánh pháp cho thấy rõ Niết-bàn. Hơn nữa, các ngài thực hành cho thoát khỏi vòng luân hồi, không vì danh hoặc vì lợi để về các cõi Thiên giới, hoặc nếu muốn cho mọi người khen ngợi trong hiện tại, cho nên mới gọi là “Nāyapatipanno”.

Vấn: Từ ngữ “Sāmicipatipanno” có nghĩa như thế nào? 

Đáp: Là các ngài thực hành xứng đáng cho người lễ bái.

Vấn: Như thế nào là thực hành xứng đáng cho người lễ bái? 

Đáp: Các ngài thực hành theo con đường chân chánh, là giới, định, tuệ, trau dồi thân, lời, ý trực thẳng đến Niết-bàn xứng đáng cho người chấp tay vái chào, lễ bái.

Vấn: Câu kệ là “Yadidaṃ cattāri purisayugāni attha prurisapuggalā” có ý nghĩa như thế nào? 

Đáp: Là chư tăng, nếu đếm đôi thì có bốn bậc, còn nếu đếm chiếc thì có tám bậc.

Vấn: Nếu đếm đôi thì có bốn bậc và nếu đếm chiếc thì có tám bậc có ý nghĩa như thế nào?

Đáp: Bậc đã chứng đắc đạo và quả Thất lai là một đôi. Bậc đã chứng đắc đạo và quả Nhất Lai là một đôi. Bậc đã chứng đắc đạo và quả Bất Lai là một đôi. Bậc đã chứng đắc đạo và quả Vô sinh là một đôi. Còn nếu tính theo chiếc riêng lẻ thì có bốn bậc chứng đắc đạo và bốn bậc chứng đắc quả, thành ra có tám bậc.

Vấn: Với bậc đã chứng đắc quả Thất lai thì dứt bỏ được những tâm bất thiện nào?

Đáp: Dứt bỏ được bốn tâm tham tương ưng kiến và một tâm si hoài nghi, kết hợp lại thành năm tâm bất thiện. Dứt bỏ được ba hạ phần kiết sử là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Dứt bỏ được hai pháp ngủ ngầm là tà kiến ngủ ngầm và hoài nghi ngủ ngầm.

Vấn: Sự thẩm sát của bậc Thất lai như thế nào? 

Đáp: Sự thẩm sát của bậc Thất lai có năm điều là: thẩm sát về đạo; thẩm sát về quả; thẩm sát về phiền não đã dứt bỏ; thẩm sát về phiền não còn dư sót; thẩm sát về Niết-bàn.

Vấn: Có mấy hạng bậc Thất lai?

Đáp: Có ba hạng bậc Thất lai. Ekabijī: là bậc còn phải tái tục lại làm người một lần nữa rồi mới chứng đắc quả Vô sanh và không còn tái sanh nơi nào nữa cả. Kolamkola: là bậc phải tái sanh vào gia tộc này hoặc gia tộc khác trong hai hoặc ba kiếp rồi mới chứng đắc quả Vô sanh. Sattakkhattum parama: là bậc phải tái tục vào cõi Thiên giới và Nhân loại trong bảy kiếp rồi mới chứng đắc quả Vô sanh và viên tịch Niết-bàn trong kiếp cuối cùng này.

Vấn: Tại sao lại phải chia bậc Thất lai ra làm nhiều hạng như vậy?

Đáp: Các bậc ấy sai biệt với nhau là vì do nơi tuệ minh sát, như bậc chỉ còn một kiếp nữa là nhờ vào tuệ minh sát mạnh mẽ, sáng suốt mãnh liệt. Với bậc còn hai hoặc ba kiếp nữa là do việc tu tập tuệ minh sát chỉ là trung bình, không mãnh liệt lắm. Với bậc còn bảy kiếp là tuệ minh sát hơi yếu kém.

Vấn: Bậc Thất lai có đầy đủ pháp nào? 

Đáp: Bậc Thất lai có đầy đủ giới hạnh.

Vấn: Ngoài ra, bậc Thất Lai còn chia thêm hạng nào nữa không?

Đáp: Ngoài ba hạng vừa kể trên, còn chia theo sát-na (khana). Tâm dứt bỏ phiền não có hai mươi bốn bậc là: lấy bốn Pháp hành (patipadā) nhân cho hai phận sự (dhūra), như là: bậc còn một kiếp đều có bốn Pháp hành; bậc còn hai hoặc ba kiếp cũng có bốn Pháp hành; bậc còn bảy kiếp cũng có bốn Pháp hành. Tất cả có mười hai Pháp hành và đem nhân cho hai phận sự nữa, thì thành ra có hai mươi bốn hạng cả thảy.

Vấn: Với bậc đã chứng đắc quả Nhất lai thì dứt bỏ được những tâm bất thiện nào?

Đáp: Dứt bỏ được bốn tâm tham tương ưng kiến, hai tâm sân tương ưng khuể phẩn. Dứt bỏ được ba hạ phần kiết sử là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Dứt bỏ được hai pháp ngủ ngầm là tà kiến ngủ ngầm và hoài nghi ngủ ngầm. Làm giảm bớt hai hạ phần kiết sử còn lại là tham dục thô thiển và sân hận thô thiển. Còn phải tục sanh lại trong cõi Dục giới một lần nữa rồi mới chứng đắc quả Vô sanh và viên tịch Niết-bàn. Các ngài cũng thẩm sát năm pháp như bậc Thất lai vậy.

Vấn: Bậc Nhất lai nếu chia theo sát-na tâm dứt bỏ phiền não thì có được mấy hạng?

Đáp: Có tất cả mười hai hạng, là chia theo ba pháp giải thoát (vimokkha), mỗi pháp giải thoát có bốn Pháp hành, do vậy có được mười hai hạng.

Vấn: Với bậc đã chứng đắc quả Bất lai thì dứt bỏ được những tâm bất thiện nào?

Đáp: Dứt bỏ được tám tâm tham, hai tâm sân tương ưng khuể phẩn. Dứt bỏ được ba hạ phần kiết sử là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Dứt bỏ được hai hạ phần kiết sử còn lại là tham dục và sân hận. Các ngài cũng thẩm sát năm pháp như bậc Thất lai vậy.

Vấn: Bậc Bất lai chia ra làm mấy hạng? 

Đáp: Chia ra làm năm hạng, đó là: Antaraparinibbāyi: là khi tục sanh về cõi Phạm Thiên Sắc giới chưa đến phân nửa tuổi thọ ở cõi Phạm Thiên ấy thì được chứng đắc quả Vô sanh và Niết-bàn luôn lúc ấy; Upahacca parinibbāyi: là khi tục sanh về cõi Phạm Thiên Sắc giới được hơn phân nửa và gần hết tuổi thọ ở cõi Phạm Thiên ấy thì được chứng đắc quả Vô sanh và Niết-bàn luôn lúc ấy; Asankhāra parinibbāyi: là bậc chứng đắc quả Vô sanh và dứt bỏ năm thượng phần kiết sử một cách dễ dàng, không khó khăn chi cả; Sasankhāra parinibbāyi: là bậc tu tập để dứt bỏ năm thượng phần kiết sử và chứng đắc quả Vô sanh một cách vô cùng khó khăn, phải cố gắng hết sức mới thành đạt được; Uddhamsoto akanitthagāmi: là bậc tục sanh về Ngũ Tịnh Cư Sắc giới thiên (Suddhāvāsa) và tiến tu tuần tự theo hết năm cõi Sắc giới thiên rồi mới chứng đắc quả Vô sanh và Niết-bàn luôn lúc ấy.

Việc tiến tu tuần tự theo từng cõi Phạm Thiên Sắc giới như sau. Do tín mạnh, bậc Bất lai tục sanh về cõi Vô Phiền Sắc giới thiên (Avihā) cho hết tuổi thọ tại đây và tục sanh vể cõi Vô Nhiệt Sắc giới thiên. Do tấn mạnh, bậc Bất lai tục sanh về cõi Vô Nhiệt Sắc giới thiên (Atappā) cho hết tuổi thọ tại đây và tục sanh về cõi Thiện Hiện Sắc giới thiên. Do niệm mạnh, bậc Bất lai tục sanh về cõi Thiện Hiện Sắc giới thiên (Sudassā) cho hết tuổi thọ tại đây và tục sanh về cõi Thiện Kiến Sắc giới thiên. Do định mạnh, bậc Bất lai tục sanh về cõi Thiện Kiến Sắc giới thiên (Sudassī) cho hết tuổi thọ tại đây và tục sanh về cõi Sắc Cứu Cánh Sắc giới thiên. Do tuệ mạnh, bậc Bất lai tục sanh về cõi Sắc Cứu Cánh Sắc giới thiên (Akaniṭṭha) thì chứng đắc quả Vô sanh và dứt bỏ năm thượng phần kiết sử, viên tịch Niết-bàn luôn lúc ấy. Trong bốn cõi đầu tiên là từ cõi Vô Phiền Sắc giới thiên cho đến cõi Thiện Kiến Sắc giới thiên có đủ cả năm hạng, do đó kết hợp lại thì có được hai mươi hạng. Riêng về cõi Sắc Cứu Cánh Sắc giới thiên thì trừ ra hạng thứ năm, là Uḍḍhamasolo akanitthagāmi, do đó, bậc Bất lai có được hai mươi bốn hạng và nhân cho hai phận sự (dhūra) là tín phận sự (saddhādhūra) và tuệ phận sự (paññādhūra) như thế có được bốn mươi tám hạng.

Vấn: Bất lai có đầy đủ những pháp chi? 

Đáp: Các ngài có đủ pháp thiền định.

Vấn: Còn bậc Vô sanh dứt bỏ được bao nhiêu pháp bất thiện

Đáp: Các ngài dứt bỏ tất cả những mười hai tâm bất thiện. Dứt bỏ được năm pháp thượng phần kiết sử, là ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dậtvô minh. Và ba pháp ngủ ngầm là ngã mạn, ái dục và vô minh.

Vấn: Bậc Vô sanh thẩm sát những pháp chi? 

Đáp: Các ngài thẩm sát chỉ có bốn pháp như ở bậc Thất lai. Không có việc thẩm sát ở phần những phiền não còn dư sót, vì lẽ các ngài đã diệt trừ tuyệt hết phiền não.

Vấn: Bậc Vô sanh chia ra làm mấy bậc? 

Đáp: Bậc Vô sanh được chia ra làm bốn bậc, đó là: sukhavipassako – lục quán (thiền khô): là các bậc do nhờ tu tập tuệ quán làm cho phiền não khô cạn hết và chứng đắc quả Vô sinh, và không có chứng đắc các pháp thắng tríchalabhiñño – lục thắng trí: là các bậc chứng đắc quả Vô sanh luôn các chứng đắc lục thắng trí; paṭisambhido – vô ngại giải: là các bậc đã chứng đắc quả Vô sanh cùng với tứ ngại giải; te vijjo – tam minh: là các bậc chứng đắc quả Vô sanh cùng với tam minh. Cả bốn bậc Vô sanh này chia ra làm hai nhóm, là sukhavipassako  sammtha yānaka. Nếu chia theo ba pháp vimokkha thì trong mỗi vimokkha (giải thoát) có bốn pháp, thành ra có được mười hai bậc cho cả hai nhóm sukkhavipassako được mười bậc, và sammatha yānaka được mười bậc. Kết hợp lại cả hai nhóm này lại thì có được hai mươi bốn hạng.

Vấn: Các bậc Vô sanh có đầy đủ những pháp chi? 

Đáp: Các bậc Vô sanh có đầy đủ trí tuệ. Kết hợp lại, tất cả các bậc Thánh nhân có đến một trăm lẻ tám, là: hai mươi bốn hạng thuộc về bậc Thất lai; mười hai hạng thuộc về bậc Nhất Lai; bốn mươi tám hạng thuộc về bậc Bất lai; hai mươi hạng thuộc về bậc Vô sanh.

Vấn: Thế nào gọi là Pháp hành? 

Đáp: Có bốn loại Pháp hành, đó là: dukkhapaṭipadābhiññā: khi thực hành một cách khổ sở và khi chứng đắc đạo quả cũng rất khó khăn; sukhāpaṭipadā dandābhiññā: khi thực hành rất dễ dàng, nhưng khi chứng đắc đạo quả lại khó khăn; dukkhāpaṭipadā khippābhiññā: khi thực hành rất khó khăn nhưng khi chứng đắc đạo quả một cách dễ dàng; sukhāpaṭipadā khippābhiññā: khi thực hành rất dễ dàng và khi chứng đắc đạo quả cũng rất dễ dàng.

Vấn: Do bởi những nguyên nhân nào có sự thực hành khó khăn và dễ dàng?

Đáp: Do hành giả có sự sai biệt về nền tảng (indriya – quyền và phiền não – kisela) mạnh yếu khác nhau như sau. Hành giả thực hành khó khăn và chậm trễ là do bởi phiền não quá mạnh và khi chứng đắc đạo quả chậm trễ là do bởi nền tảng của quyền yếu kém. Ví như người bị bệnh nặng đi bộ đến nhà bác sĩ, khi đi đến cũng lâu và khó khăn. Khi đến được rồi và bác sĩ chữa trị, thì lại đi kiếm thuốc, thuốc lại rất khan hiếm, do vậy phải rất lâu và rất nhiều khó khăn mới được lành bệnh. Hành giả thực hành dễ dàng mau chóng và khi chứng đắc đạo quả lại chậm trễ khó khăn là do bởi phiền não ít, nhưng nền tảng của quyền lại rất yếu kém. Ví như người bệnh nhẹ, khi đi đến nhà bác sĩ thì rất mau nhưng lúc đi kiếm thuốc thì thuốc lại rất khan hiếm, do đó cũng rất lâu lành bệnh. Hành giả thực hành rất lâu và khó khăn, khi chứng đắc đạo quả thì lại rất dễ dàng và mau lẹ. Ví như người bị bệnh nặng, đi bộ đến nhà bác sĩ thì rất lâu và khó khăn, nhưng khi chữa bệnh thì lại dễ dàng và mau lành bệnh vì có thuốc đầy đủ dồi dào. Hành giả thực hành mau lẹ và dễ dàng, khi chứng đắc đạo quả cũng mau chóng. Ví như người bị bệnh nhẹ, khi đến nhà bác sĩ cũng mau lẹ và khi chữa bệnh cũng mau lẹ và dễ dàng, là do nhờ có thuốc dồi dào và đầy đủ.

Phiền não ví như căn bệnh, ngũ quyền ví như thuốc chữa bệnh, hơn nữa, ví như người đi tìm kiếm bò. Với người thứ nhất, khi đi kiếm bò thì phải đi vào rừng sâu và khi gặp bò cũng ở trong rừng già. Dường thế ấy, hành giả khi thực hành cũng khó khăn và khi chứng đắc đạo quả cũng chậm trễ. Với người thứ hai, khi đi kiếm bò thì đi theo con đường làng dễ dàng, nhưng khi gặp bò thì lại gặp ở trong rừng già. Dường thế ấy, hành giả khi thực hành rất dễ dàng nhưng khi chứng đắc đạo quả lại chậm trễ, khó khăn. Với người thứ ba, khi đi kiếm bò thì đi vào trong rừng già, nhưng khi hặp bò lại ở nơi đồng cỏ. Dường thế ấy, hành giả khi thực hành rất khó khăn, nhưng khi chứng đắc đạo quả thì lại dễ dàng mau lẹ. Với người thứ , khi đi kiếm bò thì đi theo con đường làng và khi gặp bò cũng ở nơi đồng cỏ. Dường thế ấy, hành giả khi thực hành cũng mau lẹ dễ dàng và khi chứng đắc đạo quả cũng dễ dàng mau chóng.

Ngụ ngôn về người đi kiếm bò là hành giả, bò là Thánh nhân, rừng già là phiền não nhiều, đường làng là phiền não ít. Hành giả thực hành và chứng đắc đạo quả sai biệt với nhau, như đã giải thích ở phần trên.

Vấn: Từ ngữ “Esa bhagavato sāvakasangho” có nghĩa như thế nào? 

Đáp: Tất cả chư tăng như vừa giải thích ở trên, đều là Thinh văn đệ tử của Đức Phật.

Vấn: Từ ngữ “Āhuneyyo” có nghĩa như thế nào? 

Đáp: Là các ngài xứng đáng thọ lãnh tứ vật dụng của những thí chủ đem đến cúng dường.

Giải thích rằng: Tứ vật dụng, nhất là y casa mà tín thí từ gần hoặc xa đem đến để dâng cúng cho người có giới hạnh. Tất cả tứ vật dụng ấy, chư tăng là bậc Thinh văn đệ tử của Đức Phật xứng đáng để thọ lãnh, bởi vì các ngài có thể làm cho tứ vật dụng ấy có được nhiều phước báu, do bởi thiện công đức của các ngài. Cho nên mới gọi là người xứng đáng thọ lãnh tứ vật dụng của tín thí.

Vấn: Từ ngữ “Pāhuneyyo” có nghĩa như thế nào? 

Đáp: Là các ngài xứng đáng thọ lãnh tứ vật dụng mà người sắm sửa dùng để đãi khách.

Giải thích rằng: Những vật dụng mà người sửa soạn để tiếp rước thân bằng quyến thuộc quý mến từ phương xa đến, nhưng lại đem đến dâng cúng cho chư tăng. Vì những người khách đến ấy, không có đủ đức hạnh bằng chư tăng. Hơn nữa, các ngài có oai nghi xứng đáng cho người phát tâm trong sạch, quý mến, nhất là giới đức. Bởi vậy, tứ vật dụng dùng để tiếp đãi khách từ phương xa, lại mang ra đem dâng cúng đến cho các ngài.

Vấn: Từ ngữ “Dakkhineyyo” có nghĩa như thế nào? 

Đáp: Là các ngài xứng đáng thọ lãnh các vật dụng của Dukkhinādāna.

Giải thích rằng: Người có đức tin về lý nhân quả, đem vật dụng ra để xả thí, gọi là dukkhinādāna. Chư tăng là bậc Thinh văn có thể làm cho phước thí của thí chủ được nhiều quả phước báu, nên xứng đáng thọ lãnh của phước thí ấy.

Vấn: Từ ngữ “Anjālikāraniyo” có nghĩa như thế nào? 

Đáp: Là các ngài xứng đáng cho chúng sanh lễ bái.

Giải thích rằng: Chư tăng là Thinh văn đệ tử của Đức Phật, các ngài xứng đáng cho chúng sanh lễ bái, là vì các ngài có nhiều phước lành. Với chúng sanh hội túc duyên khi được trông thấy các ngài với cặp mắt từ ái, hoặc với cặp mắt cảm mến, hoặc từ nơi sự cung kính lễ bái thì quả phước báu trổ sanh cho những kiếp sau được sanh trong dòng giống cao quý và có nhiều quyền tước cao trọng.

Vấn: Câu kệ là “Anuttaraṃ punnakkhettam lokassa’ti” có nghĩa như thế nào? 

Đáp: Các ngài phước điền của chúng sanh không đâu sánh bằng.

Giải thích rằng: Chư tăng là Thinh văn đệ tử của Đức Phật là thửa ruộng quý báu nhất của chúng sanh không đâu sánh bằng. Khi con người muốn gieo hạt giống chi, như là lúa nếp, đậu mè, bắp khoai chi chi, cũng đều đi tìm kiếm thửa ruộng có nhiều phẩm chất phì nhiêu để gieo trồng hạt giống của mình lên thửa ruộng ấy,với sự ước mong cho mùa màng, cây trái hoa quả tốt đẹp, như thế nào thì chúng sanh cũng dường thể ấy, khi muốn gieo trồng hạt giống lành là phước báu của mình thì cũng mong cầu cho được nhiều phước báu, nên phải chọn lựa mảnh đất phước điền, là người thọ lãnh phước thí của mình có nhiều đức lành trong sạch, nhứt là đã xa lìa các phiền não thô thiển hay vi tế, mới có thể làm cho phước thí được kết quả dồi dào không sai, cũng như gieo hạt giống trên miếng ruộng tốt, ít cỏ dại, không có lẫn lộn cát, đá, sạn v.v… thì cây trái mùa màng mới được trổ đầy những hoa quả vậy.

Hơn nữa, hạt giống mà gieo trên miếng ruộng có đầy đủ tám chi mới có nhiều quả, tám chi đó là: ruộng không cao lắm, không thấp lắm; ruộng không có đá sạn; đất không mặn lắm; ruộng sâu và mát mẻ; có nhiều phẩm chất phì nhiêu; không có sự tai hại, như sâu bọ; có đường nước dẫn vào ruộng (thủy điền); có bờ đê đắp quanh ruộng. Hạt giống mà người gieo lên thửa ruộng có tám chi sẽ được nhiều hoa quả sung túc như thế nào, thì phước thí mà con người đã dâng cúng đến chư tăng là ruộng phước báu có tám chi cũng sẽ được nhiều phước báu vô lượng vậy. Tám chi ấy là: chư tăng là Thinh văn đệ tử của Đức Phật có chánh kiến; có chánh tư duy; có chánh ngữ; có chánh nghiệp; có chánh mạng; có chánh tinh tấn; có chánh niệm; có chánh định. Như bài kệ của Đức Phật có nói:

“Tiṇadosāni khettāni rāgadosā ayaṃ pajā tasmāhi vitarāgesu dinnaṃ hoti mahapphalaṃ. Tiṇadosāti khettāni dosadosā ayaṃ pajā tasmāhi vitadosesu dinnaṃ hoti mahapphalaṃ. Tiṇadosāti khettāni icchādosā ayaṃ pajā tasmāhi vitaticchesu dinnaṃ hoti mahapphalaṃ

– Chúng sanh bị tham dục là tội lỗi, bởi vậy cho nên phước thí mà người đã cúng dường đến bậc không có tham dục sẽ được nhiều phước báu. Tất cả thửa ruộng, bị cỏ là vật tội lỗi. Chúng sanh bị sự sân hận là tội lỗi, bởi vậy cho nên phước thí mà người cúng dường đến bậc đã xa lìa sân hận sẽ được nhiều báu. Tất cả thửa ruộng, bị cỏ là vật tội lỗi. Chúng sanh bị sự si mê là tội lỗi, bởi vậy cho nên phước thí mà người cúng dường đến bậc đã xa lìa si mê sẽ được nhiều phước báu”.

Chư tăng có danh hiệu từ Ᾱhuneyyo đến Puññakkhetaṃ lokassa đều có năm chi khác nữa ví như con voi của đức vua, đó là: sotā: biết nghe lời dạy của thằng nài; hantā: khi vào chiến đấu thì cố gắng giết cho được kẻ địch; rakkhitā: biết giữ gìn các bộ phận khi chiến đấu; khantā: nhẫn nại làn gươm, mũi đạn khi chiến đấu; gantā: luôn luôn tuân theo ý muốn của thằng nài. Con voi nào có năm chi như vậy thì mới xứng đáng cho đức vua tín dụng dùng xài trong khi chiến đấu như thế nào thì chư tăng là bậc Thinh văn đệ tử của Đức Phật có danh hiệu như Ᾱhuneyyo cũng có năm chi, đó là: sotā: thích nghe pháp của Đức Phật giảng giải; hantā: biết tận diệt ba tà tư duy; rakkhitā: biết thu thúc lục cănkhantā: biết nhẫn nại trong mọi việc, nhứt là sự lạnh, sự nóng v.v…; gantā: là người trực chỉ thẳng đến Niết-bàn là nơi con người thường ít đi đến.

Hơn nữa, tất cả ân đức tăng đã kể trên nếu kết hợp chỉ có hai đức lành là: ân đức tự ngã (attahetu guṇa), ân đức tha nhân (parahettu guṇa). Chỗ câu nói từ supatipanno… đến sāmicipatipanno gọi là attahetu guṇa – ân đức tự ngã, ân đức có lợi ích cho cá nhân mình. Chỗ câu nói từ āhuneyyo… đến anuttaraṃ puññakkhettaṃ gọi là parahetu guṇa – ân đức tha nhân, ân đức có lợi ích cho người khác.

Đến đây là tóm lược tất cả Ân đức của Tăng bảo.

Dứt phần Ân đức Tăng bảo

Soạn xong tại Phổ Minh Tự, tháng Giêng, năm Giáp Dần, Tháng 2/1974 ‒ 2517

Đại Trưởng lão Bửu Chơn

Trang chủ » Ân Đức Tăng Bảo (Saṅgha Guṅa)