Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Lược dẫn

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương I: Ấn Độ trước khi Đức Phật xuất hiện

Theo Kinh Sáu Thanh Tịnh (Chabbisodhanasuttaṃ) (số 112)1M.iii, 29 pháp hành vận chuyển theo sáu giới là: địa giới, thuỷ giới, hoả giới, phong giới, không giới và thức giới. Sáu chất này tạo ra thế giới quan sinh động đa dạng, sai biệt với nhiều màu sắc. Ngoại trừ những pháp vô mạng quyền (anindriya dhamma) như đất, đá, núi, sông, biển, mặt trời, mặt trăng, tinh tú… Các pháp có mạng quyền (sandriya dhamma) là những sinh vật cũng đa dạng không kém, có những sinh chúng không chân, nhiều chân và hai chân với những nét sai biệt lẫn nhau. Dù có đa dạng như thế nào, phần lớn sinh chúng được quy kết vào hai giới tính: giống đực, giống cái.

Tuỳ theo chủng loại, các sinh vật được định danh khác nhau:

– Những sinh vật thuộc chủng loại có cánh như những loại chim, thì được gọi là Trống (chỉ cho giống đực); Mái (chỉ cho giống cái) như: chim trống, chim mái, gà trống, gà mái…

– Những sinh vật không có cánh, có lông mao hoặc không có lông, sống ở trên bờ, thì định danh là: đực, cái. Như trâu đực, trâu cái, sư tử đực, sư tử cái, rắn đực, rắn cái…

– Những sinh vật có khả năng sống dưới nước hoặc cả dưới nước lẫn trên bờ, có thể được gọi hỗn hợp chung cả hai cách: trống- mái hay đực – cái, như: sấu đực, sấu cái, rùa đực, rùa cái, cá trống, cá mái…

– Về sinh chủng là người hay thiên nhân thuộc sinh chủng cao cấp, danh từ để phân biệt giới tính là nam hay nữ, như người nam người nữ, thiên nam, thiên nữ; cũng có thể gọi là con trai, con gái.

Và như vậy, phần lớn sinh chúng được phân ra hai giới tính.

Trong hai giới tính, giới tính nam được xem như có sức mạnh hơn giới tính nữ; do đó dẫn đến “lấn áp” giới nữ. Giới nữ lại có khuynh hướng phục tùng, nên dần dần họ cảm thấy có sự bất bình đẳng, và tạo ra phong trào “bình đẳng giới”.

Ủng hộ đòi “bình đẳng” chống lại bất bình đẳng là giới nữ.

“Sự bình đẳng” này bao hàm nhiều khía cạnh như: Kỳ thị về màu da, kỳ thị về giai cấp, kỳ thị về quyền lợi, kỳ thị về thế lực…

Trong khoảng hơn bốn mươi năm gần đây, phong trào nữ quyền bùng lên không ngớt làm xao động, náo động dư luận.

Năm 1952, tổ chức Liên Hiệp Quốc đã tuyên ngôn về quyền lợi chính trị của nữ giới.

Năm 1975, Liên Hợp Quốc triệu tập Hội nghị Thế giới và nữ quyền tại Mexico. Và năm 1975 được gọi là, năm Quốc Tế Nữ Quyền.

Mười năm sau, vào năm 1985, Liên Hợp Quốc họp tại Nairobi ở Phi Châu. Nữ quyền được bàn đến và nữ giới có quyền sinh sản làm mẹ, quyền tự do lựa chọn ngừa thai, phá thai hay giữ thai.

Lại mười năm sau nữa, vào năm 1995. Liên hợp quốc tổ chức Hội nghị nữ quyền Thế giới ở Bắc Kinh; thủ đô nước Trung Hoa.

Nữ nhân sống trong thời Trung Hoa cổ, luôn luôn chịu đựng sự bất công, sống như một kiếp nô tỳ, không có quyền phản kháng, bằng câu khẩu hiệu “Phu xướng phụ tuỳ” đã tước đoạt quyền phản kháng khi bị áp bức, chỉ có quyền duy nhất là “lãnh chịu, phục tùng” như một nữ nô.

Lại nữa, với khuôn mẫu của Khổng giáo, nữ nhân bị trói buộc bởi luật “tam tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (người con gái khi còn ở nhà phải nghe theo Cha, khi lấy chồng phải nghe theo chồng, khi chồng chết phải làm theo ý kiến của con trưởng). Như vậy, trọn cả cuộc đời nữ nhân chỉ có một chữ “tòng” mà thôi. Thật sự đó là một áp bức.

Liên Hiệp Quốc tổ chức Đại hội Nữ Quyền Thế Giới tại Bắc Kinh, với một trăm tám mươi lăm quốc gia tham dự, với bốn ngàn đại biểu chính phủ, thảo luận trong mười ngày, nhằm thay đổi đường lối, chính sách của các quốc gia, để cải thiện phương tiện giáo dục, y tế, kinh tế, chính trị cho giới nữ lưu.

Trong lĩnh vực Tôn giáo cũng vậy, phong trào nữ quyền phối hợp với phong trào canh tân tôn giáo, đã làm rung chuyển tận gốc rễ giáo lý Gia Tô giáo cũng như Hồi giáo, nhằm mục đích giải phóng nữ giới thoát ra những quy định khắc khe của tôn giáo như ngừa thai, phá thai… Và giúp người nữ tu được bình đẳng trong nhiệm vụ tín ngưỡng thiêng liêng, hưởng trọn vẹn quyền lợi như một nam tu sĩ.

Thật vậy, nơi nào có áp bức, nơi ấy có phản kháng, nơi nào có phản kháng nơi ấy có biến động. Nhiều biến động hội lại sẽ trở thành cơn chẤn Động, đó là một quy luật diễn tiến.

Nữ giới được xem là phái yếu, nhưng không nên xem thường, một khi họ trỗi dậy, có thể gây ra chấn Động lớn.

Trên mặt biển phẳng lặng êm ả kia, ẩn tàng bên dưới là những lượn sóng ngầm, khi kết tụ những lượn sóng ngầm lại, nó có thể cuốn trôi, nhận chìm những chiến thuyền to lớn.

Không nên xem thường sức mạnh của nữ giới, dù rằng sức mạnh này không hiển lộ như sức mạnh nam giới, nhưng sức mạnh của nữ nhân âm thầm đóng góp vào sự thành công hoặc thất bại của nam giới. Lịch sử cũng đã có nhiều chứng minh cho điều này, như Nguyên Phi Ỷ Lan hai lần nhiếp chính cho triều Lý là Lý Thánh Tôn và Lý Nhân Tôn, đem lại thanh bình, an lành cho đất Việt.

Theo lịch sử Trung Hoa, tiếng cười của nàng Bao Tự khi thấy chư hầu nhà Châu hăm hở kéo đến Phong hoả đài để cứu giúp vua U Vương, nhưng tỉu nghỉu ra về, tiếng cười ấy báo hiệu làm sụp đổ nhà Châu hùng mạnh; một Tô Đắc Kỷ ma mị làm sụp đổ triều đại Thành Thang của Ân Trụ. Nàng Tây Thi chỉ nhăn mặt mà làm đổ nát cả giang sơn Ngô Phù Sai.

Theo thần thoại Hy Lạp, trận chiến thành Troit kéo dài mười năm, làm tổn hao tài vật cùng sinh mạng tướng sĩ cả hai bên, nhiều danh tướng huyền thoại như Archill phải ngã gục, tất cả chỉ vì sắc đẹp của nàng Helen.

  • 1
    M.iii, 29