Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Ngã mạn

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương II: Phật giáo với Nữ giới

Những nhược điểm của Nữ nhân

Nữ nhân khi thành đạt một điều gì đó hoặc có được địa vị cao thì tỏ ra tự hào tự đắc, đánh mất sự khiêm tốn nhu thuận, thích nói đến “cái tôi” của họ. Đồng thời khi ấy nữ nhân dường như quên đi quá khứ cơ cực của mình.

Bổn Sự Sujāta (Sujāta- jātaka) (số 269) đã minh hoạ cho vấn đề này.

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ nơi Đại tự Jetavana, nhân đề cập đến Hoàng hậu Mallikā vợ vua Pasenadi xứ Kosala, Ngài đã nói lên Bổn Sự này. Được nghe rằng: Một hôm có chuyện cãi cọ xảy ra giữa vua Pasenadi và Hoàng hậu Mallikā trong hậu cung. Vua Pasenadi giận, không cần nhìn mặt bà Mallikā.

Bà Mallikā suy nghĩ: “Có lẽ Bậc Đạo sư không biết đức vua đã giận ta đến thế nào đâu?”

Biết được tư tưởng của nàng Mallikā, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn sau khi vận mặc y phục tề chỉnh, tay cầm lấy y bát, Ngài cùng năm trăm vị Tỳ Khưu đi đến Hoàng cung.

Vua Pasenadi tiếp rước bát của Đức Thế Tôn, thỉnh Đức Thế Tôn và Tăng chúng vào nội điện, ngồi vào chỗ ngồi được soạn sẵn, Đức Thế Tôn hỏi:

– Này Đại vương, hoàng hậu Mallikā đâu rồi?

– Bạch Thế Tôn, xin Ngài đừng hỏi đến bà ấy làm gì? Bà ấy không còn biết phải trái, bà ấy đang say sưa vì danh dự mà bà ấy được hưởng.

– Này Đại vương chính địa vị ấy Đại vương đã ban cho nàng Mallikā trước đây. Hiện tại Đại vương lấy lại tất cả, không tha thứ lỗi mà nàng Mallikā phạm phải. Như vậy, Đại vương hành xử cũng không ổn thoả.

Nghe vậy, vua Pasenadi cho vời nàng Mallikā đến. Đức Thế Tôn dạy:

– Hai vị nên sống hoà thuận với nhau.

Sau khi tán thán sự chung sống hoà thuận, Đức Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

Các vị Tỳ Khưu bàn luận với nhau nơi giảng pháp đường rằng:

– Vua Pasenadi và hoàng hậu Mallikā đang giận hờn, chỉ một lời khuyên giải của Đức Thế Tôn họ đã hoà thuận với nhau.

Nghe được sự bàn luận của các Tỳ Khưu, Đức Thế Tôn ngự đến giảng pháp đường nhân đó Ngài thuyết lên Bổn Sự Sujāta (số 269).

Thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì kinh thành Bārāṇasī, Bồ tát là quan đại thần cố vấn cho đức Vua.

Một hôm, đức Vua từ cửa sổ cung điện nhìn xuống sân. Đức vua thấy cô gái xinh đẹp đang đội trên đầu một rổ táo và rao bán.

Âm thanh rao bán táo của nàng rất ngọt ngào du dương, vừa nghe tiếng rao của nàng, đức Vua phát sinh tâm ái luyến.

Khi biết nàng chưa có chồng, đức Vua cho gọi nàng đến và phong cho nàng địa vị Hoàng hậu. Nàng được vua sủng ái, làm hài lòng đức vua.

Hoàng hậu được gọi là Sujātādevī.

Một hôm, đức vua đang ăn táo đựng trong chiếc đĩa vàng. Thấy vậy hoàng hậu Sujātā hỏi: – Thưa Đại vương, Ngài đang ăn trái gì vậy.

Hoàng hậu Sujātā hỏi với kệ ngôn:

(21)
“Dường như cái trứng, cái gì đây?
Trong đĩa vàng kia đặt trước
Ngài Sắc đỏ xinh thay – Tâm Thánh thượng
Trái cây này mọc ở đâu vầy”.
Kiṃandakā ime devā
Nikkhittā kaṃsamallake
Upalohitakā vaggū
Taṃ me akkhāhi pucchito’ti
(Trần Phương Lan dịch)

Đức vua tức giận nói:

– Này cô gái bán táo kia, cô không nhận ra những quả táo của chính gia đình cô ư? Đức vua nói lên hai kệ ngôn:

(22)
“Áo quần mộc mạc, đầu không mão
Ngày ấy nào cô hổ thẹn đâu?
Vạt áo đựng đầy bao trái táo
Bây giờ lại hỏi trái cây nào”.
Yāni pure tuvaṃ devi
Bhaṇḍu nantakavāsinī
Ucchaṅgahatthā pacināsi
Tassā te koliyaṃ phalaṃ

(23)
“Cô quả tự cao, hư hỏng ra
Đời cô chẳng thấy thú đâu mà
Đi đi, táo ấy, lui về lượm
Cô chẳng còn là vợ của ta.
Uḍḍayhate na ramati
Bhogā vippajahanti taṃ
Tatthevimaṃ paṭinetha
Yattha kolaṃ pacissati.
(Trần Phương Lan dịch)

Nghe vậy, Bồ tát suy nghĩ: “Chẳng có ai ngoài ta ra có thể hoà giải đôi vợ chồng này, Ta sẽ làm dịu cơn giận của vua và ngăn Ngài đuổi Hoàng hậu ra khỏi hoàng cung”.

Bồ tát nói lên kệ ngôn khuyên giải rằng:

(24)
“Đây là tội của người phụ nữ
Tăng trưởng theo ngôi thứ mà ra  
Xin Ngài thôi giận, thứ tha .
Vì Ngài đã tặng cho bà ngôi cao”.
Honti hete mahārāja 
Iddhippattāya nāriyā
Khama deva sujātāya
Māssa kujjha rathesabhā’ti
(Trần Phương Lan dịch).

Vua nghe vậy, bỏ qua lỗi lầm của Hoàng hậu Sujātā, phục hồi ngôi vị cũ cho bà.

Từ đó hai người sống với nhau rất hoà ái.

Đức vua Brahmadatta nay là vua Pasenadi, Hoàng hậu Sujātā nay là Hoàng hậu Mallikā. Bồ tát đại thần cố vấn, nay là Đức Thế Tôn.

Trong Tạng Luật, bộ Cullavagga II (Tiểu Phẩm II), chương Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunīkhandhakaṃ) ghi nhận:

Khi Ngài Ānanda ba lần xin cho người nữ được xuất gia trong Pháp Luật này, cả ba lần Đức Thế Tôn đều từ chối.

Và Ngài Ānanda đã khôn khéo, tìm cách để Đức Thế Tôn thuận cho nữ giới được xuất gia trong Pháp Luật của Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn dạy:

– Này Ānanda, nếu bà Mahāpajāpati Gotamī thọ nhận tám trọng pháp, hãy xem chính điều ấy là sự tu lên bậc trên đối với bà.

Một trong tám trọng pháp ấy là:

“Tỳ Khưu Ni đã tu lên bậc trên được một trăm năm, nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào, sự chấp tay, (và) hành động thích hợp đến vị Tỳ Khưu vừa tu lên bậc trên vào ngày hôm ấy. Đây là pháp cần được trọng vọng, cung kính, tôn kính, cúng dường và không được vi phạm cho đến trọn đời.”

Khi Ngài Ānanda truyền đạt lời dạy của Đức Thế Tôn đến bà Mahāpajāpati Gotamī:

“Nếu bà Mahāpajāpati Gotamī muốn được xuất gia trong Pháp Luật của Đức Thế Tôn, bà phải thọ trì tám trọng pháp này đến trọn đời”.

Bà Gotamī hoan hỷ thọ nhận tám trọng pháp này đến trọn đời, giống như người nam nữ còn trẻ tuổi thích trang điểm, đặt vòng hoa lên đầu.

Sau khi được xuất gia Tỳ Khưu Ni một thời gian (khi ấy bà Mahāpajāpati Gotamī là bậc Thánh Dự Lưu) đến bạch với Ngài Ānanda rằng:

– Thưa Đại đức Ānanda, con cầu xin Đức Thế Tôn một điều ước muốn. Thưa Đại đức, tốt đẹp thay Đức Thế Tôn có thể cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào, sự chấp tay, (và) hành động thích hợp là tính theo thâm niên (yathāvuddhaṃ) đối với Tỳ Khưu và các Tỳ Khưu Ni. Và Đức Thế Tôn đã bác bỏ lời cầu xin này.

Do nhân này, Đức Thế Tôn dạy các vị Tỳ Khưu rằng:

– Này các Tỳ Khưu, không nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào, sự chấp tay, (và) hành động thích hợp đến nữ nhân; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Điều này cho thấy rằng: “Khi chưa được chấp nhận xuất gia trong Pháp Luật này, bà Mahāpajāpati Gotamī hoan hỷ thọ nhận tám trọng pháp đến trọn đời. Nhưng khi có được hạ lạp, bà lại thỉnh cầu Đức Thế Tôn cho phép sự đảnh lễ… tính theo thâm niên; hàm ý rằng Tỳ Khưu thấp hạ phải đảnh lễ, chào hỏi, cung kỉnh, tôn trọng vị Tỳ Khưu Ni cao hạ”.

Điều này cho thấy, nữ nhân khi có địa vị thì sự ngã mạn được hiển lộ ra rõ ràng. Sự ngã mạn, nam hay nữ đều có. Nhưng số lượng thành đạt của nam nhân có tỉ lệ cao, nên nam nhân có thành đạt nhìn thấy nam nhân khác cũng thành đạt tương đương mình, nên sự bộc lộ tính tự cao, tự đắc không rõ nét.

Trái lại tỷ lệ thành công của nữ giới so với nữ giới thấp, nên một nữ nhân khi thành đạt nhìn thấy số lượng nữ giới thành công như mình không là bao; do đó sự tự hào, tự cao, tự đắc phô bày rõ rệt.