Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Nguyên nhân nữ giới bị áp bức

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương I: Ấn Độ trước khi Đức Phật xuất hiện

Trước tiên, dường như đó là do sự áp đặt của phái nam với nhiều luật lệ, nghi thức áp chế đối với nữ giới về các lĩnh vực: Học vấn, kinh tế, chính trị, tôn giáo…

Thật ra, những quy ước ban đầu được nêu ra không nặng nề như vậy, nhưng dần dần theo dòng thời gian, những quy ước này trở thành một cổ lệ, những quy ước này được các nhà cầm quyền, các nhà tôn giáo, các nhà luân lý học thêm vào những điều lệ ràng buộc khác, chúng trở thành những điều áp bức, đè nén, không cho nữ giới có cơ hội phát triển tài năng. Chẳng hạn như: thời phong kiến, người nữ tuy có được học vấn cũng không được thi cử, không được bổ nhiệm làm quan để có cơ hội thể hiện năng lực của mình; dường như mọi hoạt động của nữ giới đều có sự giám sát của nam giới; một áp lực vô hình đè nặng lên nữ giới và nữ giới cảm thấy cần phải thoát ra những áp lực này nên có phong trào “Bình đẳng giới” đòi quyền bình đẳng trong mọi lãnh vực: Nhân văn, quyền sống, chính trị, văn hoá tôn giáo…

Nhưng khi suy xét kỹ, chúng ta sẽ nhận ra rằng: “nữ giới luôn cần được sự bảo vệ, sự bảo vệ đó là điều cần thiết”. Tức là do thể chất yếu đuối, nên cần sự bảo vệ an toàn, đây là một trong những lý do khiến nữ giới bị lệ thuộc.

Lại nữa, từ yếu tố thân thể cần được bảo vệ, nó dẫn đến tâm lý “cần được bảo vệ”. Thế là nữ giới hình thành “thân tâm bị lệ thuộc” từ khi nào không biết được. Rồi nếp sống trong bối cảnh sinh hoạt dần dần tạo thành cho nữ giới một tinh thần lệ thuộc: Sống trong gia đình tuỳ thuộc vào gia đình, khi lập gia đình lại tuỳ thuộc vào bối cảnh gia đình mới. Việc này cứ thế mà tiếp diễn.

Khi cần sự bảo vệ đồng nghĩa tự đánh mất một phần tự lực của mình. Khi cần sự bảo vệ càng nhiều thì sự tự chủ càng bị hạn chế và nữ giới hình thành thái độ “tình nguyện chịu sự áp bức” để đánh đổi sự an toàn.

Lại nữa, nữ giới đa phần có tính nhu thuận hiền lành (đây là do ảnh hưởng của thể chất), có kháng cự, chống đối cũng không quyết liệt, căng thẳng. Ngay cả những con thú cái cũng có những đặc tính “không ngang bướng thất thường”; như cỗ xe màu trắng của Bà la môn Jānussoni được ghi nhận trong Tương Ưng Kinh, Thiên Đại Phẩm, Phẩm Vô Minh, Kinh Bà La Môn1S.v, 4, là cỗ xe sang trọng nhất trong thành Sāvatthi, cỗ xe toàn trắng này được kéo bởi bốn con ngựa cái thuần trắng.

Trong tập Trường Bộ Kinh I, bài kinh Sa Môn Quả (số 2)2D.i, 47. Lương y Jīvakakomārabhacca sửa soạn cho vua Ajātasattu (A- Xà- Thế) đến yết kiến Đức Thế Tôn nơi rừng Trúc (Veḷuvana). Lương y Jīvakakomārabhacca đã sửa soạn năm trăm thớt voi cái cho năm trăm cung phi tháp tùng với đoàn.

Nói như thế, không phải cho rằng “người nữ luôn thụ động”, người nữ có khi bứt phá, vượt qua trạng thái bị động, trở thành người vươn lên cao, là những anh thư nữ kiệt cũng có, là những người nắm vận nước trong tay cũng có, đều có khả năng lèo lái con thuyền vận mạng đất nước đến điểm quang vinh như Nữ hoàng Victoria người Anh chẳng hạn, như bà Nguyên Phi Ỷ Lan… Cũng có khi nữ giới nắm quyền điều hành vận mạng đất nước, đưa đất nước đến chỗ điêu linh như Từ Hi Thái Hậu của nước Trung hoa.


 

  • 1
    S.v, 4
  • 2
    D.i, 47