Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Những hạn chế của Nữ nhân

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương II
Phật Giáo Với Nữ Giới

Tuy nữ giới có thể thành tựu những gì mà nam nhân thành tựu, ngoài những trường hợp hy hữu đặc biệt, phần lớn khi so sánh sự thành tựu giữa nam giới và nữ giới theo đẳng cấp như nhau thì nữ giới hầu như không thể vượt qua nam giới.

Chúng ta có thể thấy và phân tích như sau:

Những địa vị không thể thành tựu

-family: georgia, palatino, serif; font-size: 14pt;”>– Do sợ hãihành động sai trái (Bhayāgati)

Bốn pháp này trong bài kinh Pathamāgatisutta thuộc Tăng Chi Kinh, chương Bốn Pháp, phẩm HànhTrường Bộ Kinh III, Kinh Singālovadasutta1A.ii, 18; D, iii, 182.

Theo Từ điển Pali-English do hội Pali Text Society biên soạn, ‘agati’ được hiểu là ‘hành động sai trái, ác hành

Từ điển Pali-English do ngài Buddhadatta biên soạn có hai nghĩa là ‘con đường sai trái’ còn có nghĩa là ‘tư vị, thiên vị’; Từ quyển này, ngài Bửu Chơn phiên dịch với tên gọi là Từ điển Pali-Việt, tuy nhiên không hiểu vì sao Ngài chỉ để nghĩa là ‘tư vị, thiên vị’ mà thôi.

Từ điển Pali-Chinese cũng có hai nghĩa ‘con đường sai trái’ và ‘biên kiến, thiên kiến’. Tuy nhiên, để hiểu được ý nghĩa của bài kinh trên chúng ta cần tra cứu bản Sớ giải. Trong Sớ giải bài kinh này giải thích rằng:

“agatigamanānīti nagatigamanāni. chandāgatiṃ gacchatīti chandena agatiṃ gacchati, akattabbaṃ karoti. sesesupi eseva nayo.”2AA.iii, 22

“agatigamana có nghĩa là ‘thực hành điều sai trái’. ‘chandāgatiṃ gacchati’ nghĩa là ‘do ham muốn mà đi đến/ thực hiện điều ác xấu, do ham muốn mà làm việc không nên làm’. Các chi phần còn lại cũng nên hiểu như vậy.”

Cũng thuật ngữ này, trong Tăng Chi Kinh, Hoà thượng Thích Minh Châu dịch là ‘sanh thú không nên đi’, còn trong Trường Bộ Kinh, Ngài dịch là ‘không làm ác nghiệp theo bốn lý do’ như đã kể trên.

Qua phân tích trên, bài kinh này được hiểu như sau: Có bốn điều sai trái đó là vì ham muốn, vì sân giận, vì ngu si và vì sợ hãi mà thực hiện những điều sai trái hoặc đi đến những nơi ác xấu, không tốt đẹp.

Nữ nhân có thể có ác, có thiện nhưng không thể cực ác hay cực thiện như người nam, nên nữ nhân khó thành tựu địa vị Ác ma hay vua Trời Sakka, hoặc vị chúa cõi Sơ thiền, như Đại Phạm Thiên. Đại Phạm Thiên là vị chúa cõi Sơ thiền, nữ nhân có thể trơ thành vị Phạm chúng thiên hay Pham phụ thiên nhưng không thể trở thành Đại Phạm Thiên.

Vấn đề được hiểu rộng là: Nữ nhân không thể thành vị chúa cõi Dạ ma, cõi Đẩu suất, cõi Hoá lạc thiên, cõi Tha hoá tự tại, chúa cõi nhị thiền là Quang âm thiên, chúa cõi Tam thiền là Biến tịnh thiên. Còn các vị thiên hay các vị phạm thiên khác, nữ nhân có thể thành tựu.

Khả năng không thể sánh bằng khả năng nam giới

Về điều này là so sánh cùng đẳng cấp: người nữ không thể sánh bằng nam giới, như:

Cùng là đẳng cấp tối thắng; nhưng số lượng Tỳ Khưu có hạnh tối thắng là bốn mươi mốt vị. Còn Tỳ Khưu Ni có hạnh tối thắng là mười ba vị3Tăng Chi Kinh, Chương Một Pháp, phẩm Người Tối Thắng, A.i, 24 .

Như vậy về số lượng có sự chênh lệch. Về chất lượng thì như thế nào?

Trong Tăng Chi Kinh, Chương Bốn Pháp, Bài Kinh Mong Cầu (Āyācanasuttaṃ) (số 176),4A.ii, 164 Đức Thế Tôn dạy:

a. Này các Tỳ Khưu, Tỳ Khưu có niềm tin, nếu chân chánh mong cầu (Sammā āyācamano), hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Sāriputta, Moggallāna”.

Này các Tỳ Khưu, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỳ Khưu của Ta, tức là Sāriputta, Moggallāna.

b. Này các Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni có niềm tin, nếu chân chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Khemā và Tỳ Khưu Ni Uppalavaṇṇā”.

Này các Tỳ Khưu, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỳ Khưu Ni của ta, tức là Khemā và Uppalavaṇṇā.

c. Này các Tỳ Khưu, nam cư sĩ có niềm tin, nếu chân chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như gia chủ Citta và Hatthaka người Āḷavī.

Này các Tỳ Khưu, họ là cán cân, là đồ để đo lường các nam đệ tử của ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka người Āḷavī.

d. Này các Tỳ Khưu, nữ cư sĩ có niềm tin, nếu chân chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như nữ cư sĩ Khujjuttarā và Veḷukantakī, mẹ của Nanda”.

Này các Tỳ Khưu, họ là cán cân, là đồ để đo lường các nữ cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarā và Veḷukantakī, mẹ Nanda.

Những đoạn kinh văn cho thấy sự tối thắng của người nữ chỉ ở trong lãnh vực của nữ giới, khi so sánh với nam giới thì nữ giới không thể ngang bằng với nam giới.

Theo kinh điển Phật giáo, Ngài Sāriputta là “tối thắng đại trí tuệ trong hàng Tỳ Khưu”; còn bà Thánh nữ A La Hán Khemā là “tối thắng đại trí tuệ” trong hàng Tỳ Khưu Ni. Nhưng trí tuệ bà Khemā không thể ngang hàng với trí tuệ Ngài Sāriputta.

Trong Sớ giải kinh Pháp Cú, câu số 180, ghi nhận:

Trưởng lão Sāriputta từng rống lên tiếng rống con sư tử đang thời sung sức trước Đức Thế Tôn, ở giữa hội chúng Tăng rằng:

– Bạch Thế Tôn, dù cho có mưa suốt kiếp trái đất này, con vẫn có thể đếm được số lượng hạt mưa. Con vẫn biết được bao nhiêu hạt rơi xuống biển, chừng này hạt mưa rơi trên đất, chừng này hạt mưa rơi trên núi.

Hoặc là: “Cát nơi bờ sông Gaṅgā, mỗi hạt cát là một điều hiểu biết của Ngài Sāriputta, cát sông Hằng có thể hết, nhưng điều hiểu biết của Ngài Sāriputta không hết”.

Hoặc là: “Nước trong sông Gaṅgā, mỗi giọt nước là một điều hiểu biết của Ngài Sāriputta, nước trong sông Gaṅgā có thể hết, nhưng sự hiểu biết của Ngài Sāriputta không hết”.

Và chính Đức Thế Tôn tuyên bố rằng: “Ngài Sāriputta có thể thay Đức Thế Tôn vận chuyển bánh xe pháp”5Xem Tương Ưng Kinh, Thiên Có Kệ, Tương Ưng Trưởng lão Vangīsa, kinh Tự Tứ, S.i, 190.

Và những điều trên bà nữ Thánh A La Hán Khemā không thể sở hữu được.

Tương tự như vậy, bà Uppalavaṇṇā là tối thắng thần thông trong hàng nữ Ni, so với năng lực thần thông của Ngài Moggallāna thì bà không bằng.

Tương tự như vậy, bà Thánh nữ Khujjuttarā là tối thắng về “hạnh nghe nhiều” trong hàng nữ cư sĩ, so với nam gia chủ Citta Macchikāsanda về “tối thắng thuyết pháp” trong hàng nam cư sĩ, thì trí tuệ bà Khujjuttarā không thể ngang bằng, vì Ngài Citta Macchikāsanda là bậc A Na hàm có tuệ phân tích của bậc Hữu học.

Lại nữa, Ngài Hatthaka Āḷavī và bà Veḷukantakī Nandamātā là tấm gương để mong cầu ước vọng cho nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Cả hai vị đều là bậc A Na Hàm, Ngài Hatthaka Āḷavī tối thắng về hạnh Tứ nhiếp pháp, có năm trăm tuỳ tùng, bà Veḷukantakī Nandamātā là “tối thắng về hạnh Tu thiền” trong hàng nữ cư sĩ6Xem Tăng Chi Kinh, Chương Một Pháp, phẩm Người Tối Thắng, A.i, 24.

Còn nói về hạnh bố thí, có hai vị được tán thán là hạnh tối thắng về bố thí là Trưởng giả Anāthapiṇḍika và bà Thánh nữ Visākhā. Tuy hai vị đều được Đức Thế Tôn ban cho địa vị tối thắng về hạnh bố thí. Cả hai vị đều có xây dựng tự viện cúng dường đến Tăng chúng có Đức Phật là vị đứng đầu, ông Anāthapiṇḍika xây dựng đại tự Jetavana với kinh phí là 180 triệu tiền vàng mua đất, 180 triệu tiền vàng để xây dựng tự viện, 180 triệu tiền vàng để tổ chức lễ Lạc thành Đại Tự Jetavana. Tổng cộng kinh phí là 540 triệu tiền vàng7AA.i, 208- 209.

Mỗi ngày Trưởng giả Anāthapiṇḍika cúng dường vật thực đến năm trăm vị Tỳ Khưu, có dành năm trăm phần vật thực cho các vị Tỳ Khưu vãng lai8DhpA.i, 128 và năm trăm phần vật thực dành cho những người không có ai nuôi dưỡng.

Bà Visākhā cũng có một ngàn năm trăm phần vật thực mỗi ngày như Trưởng giả Anāthapiṇḍika, nhưng việc xây dựng Migāramātu Sālā (Giảng đường mẹ Migāra – Về sau giảng đường này được gọi là Pubbārāma (Đông phương tự) vì nằm phía Đông thành Sāvatthi), bà Visākhā bỏ ra chín mươi triệu tiền vàng để mua đất, bỏ ra chín mươi triệu để xây dựng giảng đường và chín mươi triệu tiền vàng cúng dường đến Đức Thế Tôn và chư Tỳ Khưu trong bốn tháng. Tổng cộng kinh phí là 270 triệu tiền vàng9theo DhpA, câu số 53.

Lại nữa, Trưởng giả Anāthapiṇḍika phải vận dụng trí mới mua được đất của Thái tử Jeta.

sự khổ mà nam nhân không hề có

h chịu, khác biệt với đàn ông. Thế nào là năm?

1. Ở đây, này các Tỳ Khưu, người đàn bà lúc trẻ tuổi, đi đến nhà chồng, không bà con. Đây là đau khổ riêng biệt thứ nhất, này các Tỳ Khưu, đàn bà phải chịu khác biệt với đàn ông.

2. Người đàn bà phải có kinh nguyệt. Đây là đau khổ riêng biệt thứ hai, này các Tỳ Khưu, người đàn bà phải gánh chịu khác biệt với người đàn ông.

3. Người đàn bà phải mang thai. Đây là sự đau khổ riêng biệt thứ ba, này các Tỳ Khưu, người đàn bà phải gánh chịu khác biệt với đàn ông.

4. Người đàn bà phải sinh con. Đây là đau khổ riêng biệt thứ tư, này các Tỳ Khưu, người đàn bà phải gánh chịu khác biệt với đàn ông.

5. Người đàn bà phải hầu hạ đàn ông (Pāricariyaṃ upeti). Đây là đau khổ riêng biệt thứ năm, này các Tỳ Khưu, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Thể chất yếu đuối cần được bảo vệ

Do thể chất mỏng manh, yếu đuối nên nữ nhân khó tự bảo vệ trước nam nhân, do vậy một nhu cầu cần thiết đối với nữ giới là có sự bảo vệ từ nam giới.

Trong Tạng Luật, bộ Tiểu Phẩm II (Cullavagga II), chương Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunīkhandhakaṃ), Đức Thế Tôn sau khi chấp thuận cho nữ giới xuất gia trong Pháp và Luật này, Ngài đã dạy Tôn giả Ānanda rằng:

– Này Ānanda, cũng giống như những gia đình có nhiều người nữ, ít người nam, thường dễ bị các kẻ cướp, các kẻ trộm đột nhập.

– Này Ānanda, cũng tương tự như thế, trong pháp và luật nào nữ nhân đạt được sự xuất gia rời nhà, sống không nhà. Phạm hạnh ấy không được tồn tại lâu dài.

Trong kinh điển cũng ghi nhận: có nhiều tai hại xảy ra đến cho nữ giới khi đi đơn độc một mình.

Trong Tạng Luật, Bộ Phân tích Giới Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunī vibhaṅga), có nhiều điều học được chế định do các vị Tỳ Khưu Ni bị xâm phạm như:

– Điều Saṅghādisesa (Tăng tàn) thứ ba của Tỳ Khưu Ni.

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ gần thành Sāvatthi, nơi đại tự Jetavana.

Khi ấy có cô Ni là học trò của Tỳ Khưu Ni Bhaddā Kāpilānī. Sau khi gây gỗ với các Tỳ Khưu Ni, đã đi đến gia đình thân quyến ở trong làng.

Bà Bhaddā Kāpilānī cho người đi tìm, gặp được Tỳ Khưu Ni ấy. Do nhân sự việc này Đức Thế Tôn chế định học giới:

“Vị Tỳ Khưu Ni nào đi vào làng một mình, vị Tỳ Khưu Ni này phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội Saṅghādisesa (Tăng tàn), cần được tách riêng ra”.

Lại có hai Tỳ Khưu Ni đang đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi, giữa đường đi có con sông cần phải băng qua. Khi ấy hai Tỳ Khưu Ni đi đến gặp những người chèo đò và nói lên điều này.

– Này đạo hữu, tốt thay hãy đưa chúng tôi sang sông.

– Thưa các Ni sư, không thể đưa sang cả hai người cùng một lần.

Một người chèo đò đã đưa một Tỳ Khưu Ni sang sông và làm nhơ vị Tỳ Khưu Ni ấy.

Vị Tỳ Khưu Ni chưa được đưa sang sông cũng bị làm nhơ.

Do nhân này, Đức Thế Tôn chế định học giới: “Vị Tỳ Khưu Ni nào đi vào làng một mình, hoặc đi sang bờ bên kia sông một mình. Vị Tỳ Khưu Ni này cũng phạm tội ngay từ lúc mới vi phạm, là tội Saṅghādisesa (Tăng tàn) cần được tách riêng.”10Ngài Buddhaghosa giải thích về ý nghĩa của từ saṅghādisesa (saṅgha-ādi-sesa) như sau: Hội chúng (saṅgha) là cần thiết từ lúc khởi đầu (ādi) và các phần còn lại (sesa). Khởi đầu là sự ban cho hành phạt parivāsa, các phần kế tiếp là sự ban cho hành phạt mānatta hoặc sự ban cho việc thực hành trở lại từ đầu (mūlāya paṭikassanaṃ), cuối cùng là hành sự giải tội (abbhānakamma), tất cả các việc này đều do hội chúng (saṅgha) thực hiện, cá nhân hoặc nhóm Tỳ Khưu đều không được (VinA. iii, 522)

Lại nữa, vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỳ Khưu Ni trong khi đi đến thành Sāvatthi thuộc xứ Kosala, lúc tối trời, đã ghé vào ngôi làng nọ. Trong số đó, có vị Tỳ Khưu Ni đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái.

Có người đàn ông nọ đã sanh lòng say đắm với hình dáng của vị Tỳ Khưu Ni ấy. Khi ấy, người đàn ông ấy trong khi sắp xếp chỗ ngủ của vị Tỳ Khưu Ni ấy ở một bên.

Vị Tỳ Khưu Ni ấy đã xét đoán rằng: “Người đàn ông này đã bị ám ảnh rồi. Nếu trong đêm tối hắn ta đến thì ta sẽ mất thể diện”. Nên đã đi đến gia đình khác nữa, nằm ngủ ở đó, không thông báo cho các Tỳ Khưu Ni.

Sau đó, trong đêm tối, người đàn ông ấy đã đi đến và trong khi tìm kiếm vị Tỳ Khưu Ni ấy đã chạm vào các Tỳ Khưu Ni. Các Tỳ Khưu Ni trong lúc không nhìn thấy vị Tỳ Khưu Ni ấy đã nói như vầy:

– Chắc chắn là vị Tỳ Khưu Ni ấy đã đi ra ngoài với người đàn ông.

Sau khi trải qua đêm, vị Tỳ Khưu Ni ấy đã đi đến với các vị Tỳ Khưu Ni. Các vị Tỳ Khưu Ni đã hỏi:

– Này Ni sư, vì sao cô đã đi ra ngoài với người đàn ông?

– Này các Ni sư, tôi không có đi ra ngoài với người đàn ông.

Và đã kể lại sự việc đến các Tỳ Khưu Ni.

Câu chuyện được trình lên Đức Thế Tôn. Do nhân đó, Đức Thế Tôn chế định học giới:

“Vị Tỳ Khưu Ni nào đi vào trong làng một mình, hoặc đi sang bờ bên kia sông một mình hoặc ban đêm trú ngụ riêng một mình; vị Tỳ Khưu Ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội Saṅghādisesa (Tăng tàn) cần được tách riêng”.

Lại nữa, vào lúc bấy giờ có nhiều Tỳ Khưu Ni đang đi đường xa đến thành Sāvatthi trong xứ Kosala. Khi ấy, có vị Tỳ Khưu Ni bị bức bách bởi việc đại tiện, nên tách rời ra một mình đi phía sau.

Nhiều người đã nhìn thấy và làm nhơ vị Tỳ Khưu Ni ấy.

Sau đó, vị Tỳ Khưu Ni ấy đi đến gặp các Tỳ Khưu Ni. Các Tỳ Khưu Ni đã nói với vị Tỳ Khưu Ni ấy:

– Này Ni sư, vì sao cô mỗi một mình lại tách rời ra khỏi nhóm vậy? Chắc hẳn cô đã không bị xâm phạm?

– Thưa các Ni sư. Tôi đã bị xâm phạm.

Và chuyện được trình lên Đức Thế Tôn, nhân duyên sự này, Đức Thế Tôn chế định học giới cho các Tỳ Khưu Ni như sau:

“Vị Tỳ Khưu Ni nào đi vào trong làng một mình hoặc đi sang bờ bên kia sông một mình hoặc ban đêm trú ngụ riêng một mình hoặc một mình tách rời ra khỏi nhóm; vị Tỳ Khưu Ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội Saṅghādisesa (Tăng tàn) cần được tách riêng.”

Như vậy, trong điều học Saṅghādisesa (Tăng tàn) thứ ba của Tỳ Khưu Ni có bốn chi tiết, mỗi chi tiết đều rơi vào tội Saṅghādisesa (Tăng tàn), đó là:

1. Đi vào làng một mình.

2. Đi sang bờ bên kia sông một mình.

(Sông: Trong Luật có định nghĩa là: “Bất cứ nơi đâu làm ướt y nội của vị Tỳ Khưu Ni (được quấn) che khuất cả ba vòng.

Ba vòng (Timaṇḍalaṃ) là: vòng bụng ở rốn và hai vòng ở đầu gối. Có nghĩa là: “Vị Tỳ Khưu Ni lội qua ao lớn, nước ngập qua khỏi rốn một mình, sang bên kia bờ ao, là phạm vào Tăng tàn).

3. Ban đêm trú ngụ riêng một mình.

Là chỉ cho khi mặt trời mọc, vị Tỳ Khưu Ni còn nằm ngủ khi lìa khỏi tầm tay của vị Tỳ Khưu Ni thứ hai thì phạm trọng tội (Thullaccaya). Khi lìa khỏi vị Tỳ Khưu Ni thứ hai thì phạm Tăng tàn (Saṅghadisesa).

4. Một mình tách rời ra khỏi nhóm.

Là không phải ở trong rừng, không phải ở trong làng. Vị Tỳ Khưu Ni khuất tầm nhìn, khuất tầm nghe của vị Tỳ Khưu Ni thứ hai, bước đi bước thứ nhất phạm Thullaccaya (Trọng tội), bước đi bước thứ hai phạm Saṅghādisesa.

Điều này cho thấy nữ giới khó tự bảo vệ, thường bị xâm hại khi ở một mình.

Trong tập Sớ giải Kệ ngôn Trưởng lão Ni (Therīgāthā- aṭṭhakathā), câu chuyện Trưởng lão Ni Subhā Jīvakambavanikā (Subhā nơi vườn Xoài Jīvaka).

Trong thời Đức Phật còn tại tiền, nàng Subhā sinh vào một gia tộc Bà la môn trưởng giả nơi thành Rājagaha; vì nàng có thân hình, tứ chi vô cùng kiều diễm (Sobha vaṇṇayuttā) nên nàng được gọi là Subhā.

Nàng Subhā trở thành cận sự nữ khi Đức Thế Tôn đến thành Vương xá lần đầu tiên để tế độ vua Biṃbisāra (Bình Sa) chứng đắc Thánh quả Dự Lưu. Nàng nhận thức được sự nguy hiểm của dục lạc và thấy được nếp sống an tịnh trong sự viễn ly.

Nàng xuất gia với sự tế độ của bà Mahā Pajāpati Gotamī. Nàng tinh cần tu tập thiền Minh sát, chỉ trong thời gian ngắn vị nữ Ni Subhā chứng đạt Thánh quả A Na Hàm. Một hôm nàng Subhā sau khi thọ thực xong, nàng đi vào rừng Xoài của lương y Jīvaka để nghỉ trưa.

Một thanh niên trác táng sa đoạ sống nơi thành Rājagaha (Vương Xá), nhìn thấy nàng đi vào rừng Xoài, thấy nàng Subhā xinh đẹp, y liền chặn đường nàng, rồi dụ dỗ nàng hưởng dục lạc. Nàng Subhā nói cho thanh niên sa đoạ này biết những nguy hại của dục lạc, nàng mô tả những thể trược nơi thân để thanh niên sa đoạ này từ bỏ ý nghĩ xấu xa.

Nhưng thanh niên sa đoạ này không tỉnh ngộ, vẫn cương quyết đòi hưởng dục lạc với nàng. Nàng hỏi:

– Ngươi thấy ta xinh đẹp nơi nào?

– Nàng xinh đẹp ở đôi mắt, mắt nàng trong sáng như mắt con linh dương.

Như vậy, con mắt này là kẻ gây ra tội lỗi.

Nàng bảo:

– Hãy nhìn đây, đây chính là con mắt mà ngươi vô cùng yêu quí.

Nàng Subhā móc ngay một mắt trao cho thanh niên sa đoạ. Y kinh hoàng, sự tham dục biến mất, y kinh sợ đảnh lễ sám hối nàng Subhā rồi bỏ chạy mất.

Trưởng lão Ni Subhā thoát khỏi sự ô nhiễm xuất phát từ thanh niên sa đoạ. Nàng đi đến yết kiến Đức Thế Tôn. Vừa được nhìn thấy Đức Thế Tôn, con mắt của nàng được bình phục trở lại nguyên vẹn như cũ. Hân hoan trước uy lực của Đức Thế Tôn, tâm nàng Subhā xúc động mãnh liệt. Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thiền quán, đưa tâm quán xét lời dạy của Đức Thế Tôn, nàng Subhā chứng Thánh quả A La Hán. Từ đó nàng được gọi là Subhā Jīvakambavanikā11ThigA, 245. Sự can đảm mãnh liệt của nàng Subhā như thế, chí đến nam nhân cũng phải kính phục.

Theo Bản Sớ giải kinh Trường Bộ12DA.i, 262, có lần dân Koliya bắt cóc nhiều thiếu nữ thuộc bộ tộc Sakya (Thích Ca) khi các cô này đang tắm để đem về làm vợ, nhưng dân Sākya không phản ứng chi cả, vì xem họ như là bà con.

Bản Sớ giải kinh Pháp cú câu số 69 ghi nhận: Nàng Uppalavaṇṇā xuất gia trong Ni đoàn, nàng chứng đạt Thánh quả A La Hán tuệ phân tích và các thắng trí (abhiññā). Nàng thường đi vào rừng Andha để thiền định. Nhiều cận sự nam- nữ cất cho nàng một liêu thất, bên trong có giường, bên ngoài có màn che phủ. Nàng thường vào thành Sāvatthi khất thực, rồi trở về ngụ nơi liêu thất, một lần nàng bị thanh niên Nanda làm nhơ phạm hạnh.

Thanh niên Nanda vốn là anh em cô cậu (Mātulaputta) với nàng Uppalavaṇṇā, có tâm say mê nhan sắc của nàng Uppalavaṇṇā khi nàng còn trong gia đình. Thanh niên Nanda sau khi thoả mãn dục vọng, liền bỏ chạy trốn. Nhưng vừa khuất mắt nàng Uppalavaṇṇā, mặt đất nứt ra, rút y vào lòng đất, mệnh chung thanh niên Nanda rơi vào địa ngục Avīci (A tỳ).

Từ khi nàng Uppalavaṇṇā bị tai hại ở rừng Andha, Đức Thế Tôn ngăn cấm các Tỳ Khưu Ni ngụ trong rừng.

Sau đó Đức Thế Tôn đề nghị vua Pasenadi xây dựng một Tự viện dành cho các Tỳ Khưu Ni. Và vua Pasenadi đã xây dựng một tự viện gần Jetavanavihāra13Bổn Sự Gagga số 155, J.ii, 15. Tự viện này nằm về phía Đông Nam của thành phố.

Tự viện dành cho Tỳ Khưu Ni này được gọi là Rājakārāma. Ngài Nandaka có thuyết lên kinh Nandakovāda14Trung Bộ Kinh, kinh Giáo Giới Nandaka số 146, M.iii, 271 để tế độ năm trăm Tỳ Khưu Ni Thích Ca chứng đắc Thánh quả từ Dự Lưu cho đến A La Hán.


Ghi chú

  • 1
    A.ii, 18; D, iii, 182
  • 2
    AA.iii, 22
  • 3
    Tăng Chi Kinh, Chương Một Pháp, phẩm Người Tối Thắng, A.i, 24
  • 4
    A.ii, 164
  • 5
    Xem Tương Ưng Kinh, Thiên Có Kệ, Tương Ưng Trưởng lão Vangīsa, kinh Tự Tứ, S.i, 190
  • 6
    Xem Tăng Chi Kinh, Chương Một Pháp, phẩm Người Tối Thắng, A.i, 24
  • 7
    AA.i, 208- 209
  • 8
    DhpA.i, 128
  • 9
    theo DhpA, câu số 53
  • 10
    Ngài Buddhaghosa giải thích về ý nghĩa của từ saṅghādisesa (saṅgha-ādi-sesa) như sau: Hội chúng (saṅgha) là cần thiết từ lúc khởi đầu (ādi) và các phần còn lại (sesa). Khởi đầu là sự ban cho hành phạt parivāsa, các phần kế tiếp là sự ban cho hành phạt mānatta hoặc sự ban cho việc thực hành trở lại từ đầu (mūlāya paṭikassanaṃ), cuối cùng là hành sự giải tội (abbhānakamma), tất cả các việc này đều do hội chúng (saṅgha) thực hiện, cá nhân hoặc nhóm Tỳ Khưu đều không được (VinA. iii, 522)
  • 11
    ThigA, 245
  • 12
    DA.i, 262
  • 13
    Bổn Sự Gagga số 155, J.ii, 15
  • 14
    Trung Bộ Kinh, kinh Giáo Giới Nandaka số 146, M.iii, 271