Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Những ưu điểm của Nữ nhân

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương II: Phật giáo với Nữ giới

Bài Kinh Tôn Chủ

Trong Tương Ưng Kinh I, chương Tương Ưng Chư Thiên (Devatāsaṃyuttaṃ), bài Kinh Tôn Chủ (Issarasutta)1S.i, 43. Bài kinh này không nêu rõ “người hỏi là ai?”, tuy ở trong chương Tương Ưng Chư Thiên, nhưng không hẳn là thiên nhân hỏi. Vị ấy hỏi như sau.

“Vật gì chủ ở đời?”
Kiṃsu issariyaṃ loke

“Hàng hoá gì tối thượng?”
Kiṃsi bhaṇḍānamuttamaṃ…

Đức Phật đã trả lời như sau:

“Thế lực, chủ ở đời”
Vaso issariyaṃ loke

Nữ nhân vật tối thượng”
Itthī bhaṇḍānamuttamaṃ

Chữ Issariya có nghĩa là “quyền hành, uy quyền”; chữ bhaṇḍa có nghĩa là “hàng hoá”, ngoài ra còn có nghĩa là “kho hàng hoá”.

Vaso là “quyền thế”. Người gọi là chủ, người ấy có quyền lực, là người có sự hoạt động thoải mái, không bị một áp lực nào, không bị một ràng buộc nào chi phối.

“Nữ nhân vật tối thượng”
Itthī bhaṇḍānamuttamaṃ.

Kệ ngôn này làm đảo lộn tất cả quan kiến về nữ nhân.

Phần đông các quốc gia cổ xưa thường có tầm nhìn khinh rẽ đối với nữ nhân. Trong xã hội Ấn cổ cũng thế, nữ nhân được xem như một món hàng đem trao đổi, người ta có thể cưới vợ bằng cách mua bán, hoặc các Bà la môn mang con gái đem tặng cho các tu sĩ Bà la môn có bốn mươi tám năm thực hành phạm hạnh, họ tin tưởng rằng: “Làm như thế sẽ được phước báu, mệnh chung họ được sinh về cõi Trời”. Ngay cả cô gái cũng chấp nhận sự kiện này, xem như được đánh đổi với phước báu do vị Tu sĩ Bà la môn đã tích trữ được sau bốn mươi tám năm duy trì đời sống phạm hạnh trong sạch. Mục đích của nữ nhân này là duy trì giòng dõi Bà la môn không bị đứt đoạn.

Như vậy, thân phận nữ nhân trong xã hội Ấn cổ tuy không bị quá bạc đãi, khe khắc, nhưng xét ra cũng chẳng có giá trị gì cao; vẫn là một món hàng dùng để trao đổi và nữ nhân đối với giáo hệ Bà la môn chỉ có mục đích là sinh con để nối dõi mà thôi.

Nhưng về sau, giá trị này cũng bị xoá bỏ và nữ nhân trở thành “tiêu khiển cho lòng dục”.

Bài Kinh Bà la môn Doṇa

Trong Tăng Chi Kinh, Chương Năm Pháp, Kinh Bà la môn Doṇa (số 192)2A.iii, 223. Đức Thế Tôn giảng cho Bà la môn Doṇa về năm hạng Bà la môn thuở xưa là:

– Bà la môn đồng đẳng Phạm thiên: Là chỉ cho vị Bà la môn có huyết thống thanh tịnh, thiện sanh cả từ mẫu hệ đến phụ hệ suốt bảy đời tổ phụ. Vị ấy sống phạm hạnh từ khi còn bé cho đến bốn mươi tám năm, không hề giao cấu cho dù là trong giấc mơ, vị ấy sau khi học tập chân ngôn, vị ấy nuôi mạng bằng cách xin ăn.

Sau bốn mươi tám năm hành phạm hạnh trong sạch, vị Bà la môn ấy xuất gia, sống không gia đình, trở thành vị ẩn sĩ, nỗ lực tu tập Tứ vô lượng tâm. Đây được gọi là Bà la môn đồng đẳng Phạm thiên.

– Bà la môn đồng đẳng Chư thiên: Là chỉ cho vị Bà la môn thiện sanh cả từ mẫu hệ đến phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ. Vị ấy trong bốn mươi tám năm thực hành phạm hạnh trong sạch, học tập chân ngôn, nuôi mạng đúng pháp bằng cách đi xin ăn.

Sau bốn mươi tám năm sống phạm hạnh, không giao cấu; vị ấy đi tìm vợ đúng pháp để nối dõi giòng họ.

Bà la môn đi tìm vợ đúng pháp là như thế nào?

Là không phải do mua, không phải do bán, nhưng chỉ với một nữ Bà la môn được tưới nước lên (theo Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Tám Pháp, Phẩm Gia Chủ, kinh Ugga người Vesāli3A.iv, 208) nghi thức này diễn ra như sau: tay trái của người cho cầm tay người nữ được cho; tay phải cầm bình nước tưới lên trên rửa sạch, rồi giao người nữ ấy đến người được cho. (Phong tục này vẫn còn được thấy ở Tích Lan).

Bài Kinh Pháp Bà La Môn

Trong tập Suttanipāta (Kinh Tập); Kinh Pháp Bà La Môn (Brāhmaṇadhammika suttaṃ)4Sn. 50 ghi nhận.

(291)
“Từ trẻ đến bốn tám
Các phạm chí thời xưa
Họ sống hành phạm hạnh
Tâm cầu minh và hạnh”.
Aṭṭhacattālīsaṃ vassāni
Brahmacariyaṃ cariṃsu te
Vijjā caraṇapariyeṭṭhiṃ
Acaruṃ brāhmaṇā pure

(292)
“Các vị Bà la môn
Không mua người làm vợ
Chung sống trong tình thương
Trong niềm hoan hỷ chung”
Na brāhmaṇā aññamagamuṃ
Napi bhariyaṃ kiṇiṃsu te
Sappi yeneva saṃvāsaṃ
Saṅgantvā samaro cayuṃ.

(HT. Thích Minh Châu)

Bản Sớ giải giải thích: “Vị Bà la môn tìm vợ đúng pháp, vị ấy không đi đến giai cấp khác, chỉ đi đến giai cấp Bà la môn. Vị Bà la môn ấy đi đến nhà gia tộc Bà la môn có những cô gái Bà la môn trẻ đẹp, nói rằng:

“Tôi đã hoàn thành việc thực hành phạm hạnh trong sạch suốt bốn mươi tám năm. Nếu như có cô con gái nào đến tuổi kết hôn, thì hãy ban cho tôi”.

Liền sau đó, đối với những người Bà la môn có những người con gái đến tuổi kết hôn, cô gái Bà la môn ấy được trang điểm xinh đẹp, đứng ngay trước cổng nhà; sau khi rảy nước trên tay cô gái, rồi trao đến vị Bà la môn, nói rằng: “Này Bà la môn, với mục đích nối dõi dòng họ Phạm thiên, ta cho người vợ này đến ông”.

Có câu hỏi rằng: Vì sao vị Bà la môn có sự thực hành phạm hạnh suốt bốn mươi tám năm lại đi tìm vợ; không tiếp tục đời sống phạm hạnh suốt đời?

Đáp: Trong Thánh điển giáo hệ Bà la môn, có quan điểm như sau: “Ai không có con để nối dõi dòng họ Bà la môn, người đó đã cắt đứt dòng dõi gia tộc Bà la môn, người đó chịu đau khổ trong địa ngục”. Dĩ nhiên đây là quan điểm sai lầm; nhưng các Bà la môn đặt niềm tin vững chắc vào Thánh điển, nên đi tìm vợ đúng pháp để duy trì dòng dõi.

Riêng những nữ nhân Bà la môn chấp nhận sự kiện này và họ cho rằng: “Đó là niềm ân sủng lớn, vì họ đã duy trì được giòng dõi Phạm thiên”. Tuyệt đối trong tâm những nữ nhân này không có sự phản kháng, họ thoả thích với sự kiện này.

Ở giai đoạn đầu, người nữ được tôn trong, các Bà la môn chỉ đi đến các nữ Bà la môn trong thời có thể thụ thai mà thôi, không đi đến với nữ Bà la môn phi thời. Nữ Bà la môn đối với nam Bà la môn chỉ có mục đích là sanh con; nếu nam Bà la môn đi đến nữ Bà la môn ấy ngoài thời thụ thai, thì nữ Bà la môn ấy trở thành một phương tiện để thoả lòng dục, để vui đùa, để thoả thích.

Vị Bà la môn sau khi sinh con rồi, cạo bỏ râu tóc, xuất gia sống đời sống không gia đình, tu tập chứng đắc thiền thứ tư.

Đây được gọi là Bà la môn đồng đẳng Chư thiên.

Bà la môn có giới hạn: Là chỉ cho vị Bà la môn thực hành như vị Bà la môn đồng đẳng với Chư thiên. Nhưng khi sinh con rồi, do ưa thích con nít, nên sống trong gia đình, không sống đời sống xuất gia. Đây gọi là Bà la môn có giới hạn.

Bà la môn vượt qua giới hạn: Là chỉ cho vị Bà la môn thiện sinh từ mẫu hệ lẫn phụ hệ đến bảy đời tổ phụ về huyết thống thọ sanh. Vị ấy sống bốn mươi tám năm phạm hạnh trong sạch, nuôi sống bằng cách đi xin ăn. Sau đó vị ấy đi tìm vợ đúng pháp lẫn phi pháp (là được nữ Bà la môn do rảy nước là đúng pháp; do tìm vợ bằng cách mua bán với nữ Bà la môn là phi pháp). Vị ấy đi đến với nữ Bà la môn, đi đến với nữ Sát đế lỵ, đi đến với nữ Phệ xá (Vessa), đi đến với nữ Thủ đà (Sudda), đi đến với nữ Chiên đà la (Caṇḍālā)…

Vị ấy đi đến các nữ nhân trong bất cứ thời kỳ nào, thời kỳ có thể thụ thai, thời kỳ không thể thụ thai, thời kỳ người nữ có mang, thời kỳ người nữ cho con bú… Nữ Bà la môn đối với vị ấy là phương tiện để thoả lòng dục, để vui đùa, để thoả thích. Vị ấy vượt qua giới hạn của các Bà la môn thuở xưa. Đây được gọi là vị Bà la môn vượt qua giới hạn.

Bà la môn Chiên đà la: Là chỉ cho vị Bà la môn huyết thống thanh tịnh từ mẫu hệ lẫn phụ hệ đến bảy đời tổ phụ. Vị ấy thực hành phạm hạnh trong sạch suốt bốn mươi tám năm, nuôi mạng đúng theo pháp là đi xin ăn, học tập chân ngôn. Sau đó, vị ấy đi tìm vợ đúng pháp lẫn phi pháp, vị ấy đi đến với các nữ nhân không phân biệt giai cấp, đi đến với nữ nhân bất cứ thời kỳ nào. Vị ấy làm tất cả các nghề để nuôi mạng sống. Rồi các vị Bà la môn đã nói với vị ấy như sau: “Sao Tôn giả tự cho mình là Bà la môn, lại làm tất cả nghề để nuôi mạng sống?”. Vị ấy trả lời như sau:

“Như lửa đốt vật sạch, cũng đốt vật nhớp, nhưng không phải vì vậy mà ngọn lửa bị uế nhiễm”.

Cũng vậy, này các Tôn giả, nếu vị Bà la môn làm tất cả các nghề nuôi mạng sống, nhưng không phải vì vậy mà Bà la môn bị uế nhiễm. Như vậy, đây được gọi là Bà la môn Chiên đà la. Và Đức Thế Tôn hỏi Bà la môn Doṇa:

– Này Doṇa, ông là ai trong năm hạng Bà la môn ấy?

– Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, chúng con chưa thành tựu đầy đủ Bà la môn Chiên đà la.

Theo Bản Sớ giải kinh Tăng Chi5AA.ii, 505: Doṇa là một Bà la môn danh tiếng cao tuổi, là bậc thầy của các Bà la môn, có nhiều đồ chúng. Bà la môn Doṇa tự nhận: “Chưa thành tựu đầy đủ Bà la môn Chiên đà la”, nhưng cũng cho thấy, Doṇa có thể là Bà la môn vượt qua giới hạn.

Như thế nào vào thời Đức Phật, giai cấp của Bà la môn không còn trong sáng như thuở ban đầu, nó đang xuống cấp, do các giáo sĩ chế định nhiều luật lệ khác biệt. Đồng thời cũng cho thấy thân phận nữ giới không còn được tôn trọng mà bị đẩy vào vai trò thứ yếu, bị những bất công đè nặng.Giữa bối cảnh do hàng rào giai cấp bao phủ, giữa những định kiến sai lệch về dòng dõi, về giới tính. Đương đầu với thế lực tri thức ngự trị, tinh thần mọi tầng lớp vua quan lẫn chúng dân cả ngàn năm. Phá tan mảnh lưới bao vây, trói buộc những bất công đè nặng lên thân phận nữ giới nói riêng, dường như không một ai có khả năng làm được việc này, ngoại trừ một người, đó là bậc Chánh Đẳng Giác.

“Nữ nhân vật tối thượng”.
Itthī bhaṇḍānamuttamaṃ

Trong bất kì xã hội nào, cô gái nghèo về nhà chồng không có của hồi môn mang theo, được đánh giá là thấp kém, dễ bị nhà chồng khinh thường. Xã hội Ấn Độ cổ cũng không ngoại lệ này. Nhưng ở đây Đức Thế Tôn không đề cập đến tiểu tiết này, Ngài tuyên bố dứt khoát “nữ nhân vật tối thượng”. Lời tuyên bố của Đức Thế Tôn như tiếng sấm nổ vang giữa trời quang trong sáng, như tiếng rống sư tử vương trong thời sung mãn làm rung động núi rừng Hy Mã, như nhát chuỳ Kim cương của vua Trời Đế thích, phá tan mọi chướng ngại. Lời tuyên bố trên đã phá vỡ gông cùm nô lệ đè nặng thân phận nữ nhân, lời tuyên bố trên như nhát gươm của thanh bảo kiếm sắc bén, cắt tung mọi xiềng xích áp bức chồng chất hằng bao đời lên thân phận nữ giới, lời tuyên bố trên mang giá trị nữ nhân ra khỏi vũng lầy u tối, khung cửa hẹp định kiến về giới tính đã bị phá tan, giúp nữ nhân ngẫng cao đầu nhìn ánh sáng dương quang của sự sống và sự vinh quang mà một nữ nhân có sức mạnh tinh thần có thể thọ lãnh được.

Điều đặc biệt là: Lời tuyên bố trên đã làm tắt lịm mọi lý lẽ biện bác, khoá chặt cửa lý luận của những bộ óc thông minh, tài trí của giáo hệ Bà la môn, buộc họ phải chấp nhận: “Đó là một chân lí, không thể đổi khác”. Và tất cả những bộ óc thông tuệ có trước đó, trong thời ấy luôn cả thời vị lai đều phải cúi đầu im lặng.

Đức Thế Tôn dựa vào sức mạnh nào?

Dựa vào chân lý nào mà Ngài tuyên bố:

“Nữ nhân, vật tối thượng”.
Itthī bhaṇḍānamuttamaṃ

Ở đây chữ bhaṇḍā nguyên nghĩa là “nhà kho”, bhaṇḍā ở đây chỉ cho “bụng mẹ”. Bản Sớ giải đã giải thích:

“Tất cả Bồ tát Chánh Giác, vua Chuyển luân đều từ bụng mẹ (nhà kho đó) mà ra”.
“Sabbepi bodhisattā ca cakkavattino ca mātu kucchiyaṃyeva nibbattantī’ti itthī bhaṇḍānamuttama’nti āha.”

Itthī bhaṇḍānamuttamaṃ được dịch là “nữ nhân vật tối thượng” thì không được thích hợp lắm; theo tinh thần Bản Sớ giải thì nên dịch là: “Nữ nhân kho tối thượng”.

Ngài Ānanda được danh xưng là bậc “giữ kho Pháp-Dhammabhaṇḍāgārike”.

Điều này không thể bác bỏ được, không thể phủ nhận được; ngay cả các Bà la môn hiền trí thuở xưa, những ẩn sĩ giữa các Bà la môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật như: Atthaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgirāsa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu6Xem Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Năm Pháp, phẩm Bà La Môn, kinh Bà La Môn Dona A.iii, 223. Những vị ấy cũng sinh ra từ thai bào.

Chính thai bào đã sinh ra những danh tướng, những nữ kiệt anh thư, những nhà hiền trí… Thai bào không ảnh hưởng bởi giai cấp, bởi dòng dõi. Một Puṇṇaka xuất thân từ giai cấp nông dân trở thành vị Trưởng giả có đại tài sản đứng vào hàng thứ tư trong thời Đức Phật.

Hoàng hậu Mallika xuất thân là cô gái con của người thợ làm vòng hoa, khi trở thành Hoàng hậu của vua Pasenadi, bà đã lập được hai kỳ công to lớn. Giúp vua Pasenadi giải tán tế đàn man rợ sát sanh, đem lại an lạc thanh bình cho cư dân thành Sāvatthi, mà không cần dùng đến uy quyền, không dùng đến khổ hình, chỉ “lời nói hợp thời” đủ để chuyển xoay thế sự. Đấy là một kỳ công rực rỡ, với trí tuệ sắc bén, bà đã giúp vua chiến thắng dân thành Sāvatthi trong việc “bố thí vật thực không bố thí nào sánh bằng”. Đó cũng là một kỳ công thứ hai, mà có bao nữ nhân làm được.

Việc này chẳng liên quan gì đến dòng dõi gia thế, giai cấp, giới tính nam hay nữ cả.

“Nữ nhân kho tối thượng”
Itthī bhaṇḍānamuttamaṃ.

Đức Thế Tôn tuyên bố nữ quyền, đưa nữ quyền lên đỉnh cao.

Bài Kinh Somā

Bà Thánh nữ Ni Somā đã mạnh dạn trả lời Ác ma, khi nói về giới tính.

Theo kinh Tương Ưng I, chương Tương ưng Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunīsaṃyuttaṃ), Kinh Somā7S.i, 129 ghi nhận.

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ nơi Đại tự Jetavana, gần thành Sāvatthi. Tỳ Khưu Ni Somā sau khi vào thành Sāvatthi khất thực và thọ thực xong. Bà đi vào rừng Andha (mù loà) để nghỉ ban ngày. Bà ngồi nơi một cội cây cổ thụ để nghỉ ban ngày.

Ác ma muốn bà Somā kinh sợ, từ bỏ thiền tịnh, nên đi đến, nói lên kệ ngôn với Tỳ Khưu Ni Somā:

“Chỉ Thánh nhân chứng đạt”
“Địa vị, khó chứng đạt”.
“Trí nữ nhân hai ngón”.
“Sao hy vọng chứng đạt”.
Yaṃ taṃ isīhi pattabbaṃ
Thānaṃ durabhisambhavaṃ
Na taṃ dvaṅgulapaññāya
Sakkā pappotumitthiyā’ti

Bà Somā nghe tiếng nói nhưng không thấy người, bà suy nghĩ và biết đây là Ác ma, bà nói lên kệ ngôn phản bác Ác ma:

“Nữ tánh chướng ngại gì”
“Khi tâm khéo thiền định
“Khi trí tuệ triển khai”
“Chánh pháp quán vi diệu”
“Ai tự mình tìm hỏi”
“Ta, nữ nhân, nam nhân?”
“Hay ta là ai khác”
“Xứng nói chuyện ác ma
Ác ma thật cân xứng”
Itthibhāvo kiṃ kayirā
Cittamhi susamāhite
Ñāṇamhi vattamānamhi
Sammādhammaṃ vipassato
Yassa nūna siyā evaṃ
Itthāhaṃ purisoti vā
Kiñci vā pana aññasmi
Taṃ māro vattumarahatī’ti

(HT. Thích Minh Châu)

Chữ ṭhānaṃ (địa vị) trong kệ ngôn của Ác ma, Ngài Buddhaghosa giải thích: “Là địa vị, chỗ trú của Thánh quả A La Hán”.

Dvaṅgulapaññāya “trí hai ngón”. Đây là một thành ngữ của Pāli; thông thường người nữ khi nấu cơm, muốn biết cơm chín hay chưa, dùng hai ngón tay bóp hột cơm. “Trí hai ngón” ngầm hiểu là “việc nhỏ nhoi, việc kém cõi, không thể thành tựu được việc lớn”.

Kệ ngôn của Ác ma có nghĩa chỉ ra: “Trí của nữ nhân kém cõi, nữ nhân có tu tập cũng không thể chứng đắc Thánh quả A La Hán, như vậy sự tu tập của ngươi không có kết quả gì, vì sao? Vì ngươi là nữ nhân, không thể thành tựu việc lớn, ngươi hãy quay về với thân phận khiêm tốn của mình, thực hành những việc nội tướng đi”.

Bà Thánh nữ Somā đã bác bỏ quan điểm “người nữ không thể thành tựu việc lớn (tuy có hạn chế trong sự thành tựu ấy)”; người nữ vẫn có cơ hội thành tựu được những gì cần thành tựu, có thể thành tựu địa vị Thánh nhân, nữ tánh không phải là một chướng ngại không thể vượt qua. Người nào có sự so sánh nam hay nữ, người ấy đang nói chuyện với ác ma, là kẻ xấu ác. Này Ác ma, ngươi hãy tìm đến những kẻ ấy mà nói về phân biệt giới tính, đó là những kẻ phù hợp với ngươi.

Thật vậy, nữ tánh tuy còn hạn chế, nhưng không là chướng ngại lớn cho sự thành đạt. Có những nữ nhân thành đạt lớn so với nam nhân, có những vị nữ thánh so với nam nhân phàm. Như vậy, về mặt xã hội, Phật giáo đã đặt nữ nhân có vị trí tương đương với nam giới, Đức Thế Tôn không nhìn nữ giới qua lăng kính kỳ thị theo quan niệm thế gian, Đức Phật xác định giá trị nữ nhân theo pháp.

  • 1
    S.i, 43
  • 2
    A.iii, 223
  • 3
    A.iv, 208
  • 4
    Sn. 50
  • 5
    AA.ii, 505
  • 6
    Xem Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Năm Pháp, phẩm Bà La Môn, kinh Bà La Môn Dona A.iii, 223
  • 7
    S.i, 129