Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

San bằng giai cấp

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương II: Phật giáo với Nữ giới

Đức Phật xuất hiện trên thế gian ở vùng Trung Ấn (Majjhimadesa): khi ấy nước Ấn Độ đã hình thành hai giống dân là dân bản địa Dravidian và giống dân Aryan.

Giống dân Aryan theo chế độ phụ hệ, do ảnh hưởng điều này, người phụ nữ chịu nhiều phần thua thiệt.

Còn giống dân Dravidian theo chế độ mẫu hệ, nên vai trò người nữ ở một vài trường hợp nào đó được nâng cao.

Những Bà la môn luôn tự hào về tộc họ Bà la môn của mình, như tộc họ Kassapa, tộc họ Bhāradvāja, tộc họ Koṇḍañña…

Còn giống dân Dravidian có tộc họ là họ mẹ như Đức Thế Tôn có tộc họ là Gotama.

Tuy nhiên, nhìn chung nữ giới cho dù là thuộc tộc hệ nào, vẫn được xem là phụ thuộc vào nam giới.

Chính trong nữ giới vẫn có sự phân chia giai cấp, một giai cấp được định hình bởi tín ngưỡng Phạm thiên của các Tu sĩ Bà la môn: Nữ Bà la môn, nữ Sát đế lỵ, nữ Tỳ xá (vessa), nữ Thủ đà (sudda).

Đức Thế Tôn dựa vào pháp chứ không dựa vào những qui ước xã hội, những định kiến của người đời để nhận định vai trò của nữ nhân.

Bài Kinh Assalāyana

Trong Trung Bộ Kinh II, bài kinh Assalāyana (kinh số 93)1M.ii, 147. Ghi nhận:

Đức Thế Tôn khi trú ngụ nơi Đại tự Jetavana gần thành Sāvatthi, Đức Thế Tôn chủ trương “Bốn giai cấp đều thanh tịnh”. Có năm trăm (500) Bà la môn từ nhiều quốc độ khác nhau, đến trú ngụ nơi thành Sāvatthi do vài công việc cần thiết.

Năm trăm (500) bà la môn ấy đã thỉnh cầu thanh niên Bà la môn Assalāyana ưu tú, chỉ mới mười sáu tuổi đã tinh thông ba Tạng Veda cùng với các tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thông hiểu Thuận thế luận và Đại nhân tướng, lại có tài biện bác, đến Đức Thế Tôn để thảo luận vấn đề này. Vì các Bà la môn theo truyền thống Veda cho rằng: “Chỉ có Bà la môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà la môn là màu da trắng, các giai cấp khác có màu da đen, chỉ có Bà la môn là thanh tịnh, giai cấp khác không được như vậy. Chỉ có Bà la môn là con chính thống Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên”.

Nhưng thanh niên Assalāyana đã nói lời từ chối ba lần rằng: “Sa môn Gotama là bậc nói đúng pháp. Và những người nói đúng pháp rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa môn Gotama về vấn đề này.

Hàm ý thanh niên Bà la môn Assalāyana nói rằng: “Những ai nói đúng pháp, nương theo pháp, rất khó đánh bại người ấy”.

Cuối cùng thanh niên Assalāyana chìu ý đến thảo luận “về sự trong sạch đối với bốn giai cấp”.

Vấn đề cho rằng: “Chỉ có giai cấp Bà la môn là tối thượng, được sinh ra từ miệng Phạm thiên”.

Trong khi đó, các nữ Bà la môn vợ của các Bà la môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Các Bà la môn ấy được sanh ra từ nữ căn lại cho là sanh từ miệng Phạm thiên”.

Thực tế, điều này là không thiết thực, không có cơ sở nào để cho rằng được sinh ra từ miệng Phạm thiên, ngoài lý do siêu hình không được thấy, không được biết rõ”.

Ngược lại, các nữ Sát đế lỵ, các nữ Tỳ xá, các nữ Thủ đà cũng có kinh nguyệt, cũng mang thai, cũng có cho con bú, cũng sinh con từ nữ căn.

Vậy vì lý do nào, bảo rằng những giai cấp còn lại là thấp kém?

Đức Thế Tôn đã phá vỡ sự bất bình đẳng của giai cấp cùng sự bất bình đẳng giữa nữ nhân với nữ nhân. Tất cả đều bình đẳng hoá như nhau.

Ngày nay, sự việc này là bình thường, nhưng vào thời Đức Thế Tôn, quan điểm chia giai cấp dựa vào niềm tin thần quyền đã in đậm vào tâm khảm của đa số dân chúng thời bấy giờ, thì đây là một giáo thuyết cách mạng đã bứng tận gốc rễ sự mê muội, trả lại thế gian sự bình đẳng theo pháp. Và mọi giai cấp, mọi chủng tộc, mọi giới tính đều bình đẳng trước chân lý.

Khi thanh niên Assalāyana vẫn bám chấp vào quan điểm sai lạc do kinh điển truyền tụng ấy. Đức Thế Tôn chỉ ra, “sự thanh tịnh không do qui ước định đặt, mà sự thanh tịnh do thực hành giới pháp”. Giới pháp luôn công minh, không có thiên vị giai cấp, không có thiên vị do giới tính. Đức Thế Tôn hỏi:

– Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào? Chỉ có người Khattiya (Sát đế lỵ) sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong dục vọng… tâm có tham, tâm có sân, tâm có tà kiến. Khi mệnh chung mới bị sanh vào khổ cảnh, còn giai cấp Bà la môn thì không?

Và chỉ có người Vessa, người Sudda sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục… Khi mệnh chung, phải rơi vào bốn khổ cảnh, còn giai cấp Bà la môn thì không phải như vậy?

Và thanh niên Assalāyana thừa nhận rằng: “Bất kỳ giai cấp nào, khi vi phạm vào những ác pháp như trên, đều phải rơi vào bốn khổ cảnh”.

Và Đức Thế Tôn đã nạn vấn rằng:

– Này Assalāyana, do sức mạnh gì, do xác tín điều gì, mà các Bà la môn lại nói: “Chỉ có giai cấp Bà la môn tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt”.

Vấn đề này cần được hiểu rộng rãi như sau.

“Không phải chỉ nữ Sát đế lỵ, nữ Vessa, nữ Sudda vi phạm vào ác pháp mới bị rơi vào bốn khổ cảnh, mà nữ Bà la môn không phải như vậy?”.

Điều hợp lý là: “Tất cả dù nam hay nữ đều phải gánh lấy hậu quả giống nhau, không có sự bất bình đẳng trong quả của nghiệp qua giai cấp hay giới tính”.

Thế thì, tại sao có sự bất bình đẳng trong sinh hoạt hành xử giữa nam giới và nữ giới? Đó là điều phi lý, là phi pháp.

Một luận cứ khác được Đức Thế Tôn nạn vấn thanh niên Assalāyana nhằm mục đích phá vỡ định kiến về giai cấp và giới tính.

– Không phải chỉ có giai cấp Bà la môn từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho… không có tham tâm, không có sân tâm, không có tà kiến, sau khi thân hoại mệnh chung được sanh về nhàn cảnh, còn ba giai cấp còn lại thì không như vậy.

Tất cả bốn giai cấp đều được thanh tịnh như nhau, đều được hưởng quả an lạc từ thiện pháp như nhau.

Cũng nên hiểu rộng vấn đề này như sau: Nếu một nam giới sống phi pháp, một nữ nhân sống đúng pháp, sống theo pháp. Sau khi thân hoại mệnh chung nam nhân ấy rơi vào bốn khổ cảnh, còn nữ nhân thì được sinh về nhàn cảnh. Sự kiện này cho thấy giới tính không phải là điều cần thiết.

Những luận cứ trên được Đức Thế Tôn nêu ra vấn nạn Assalāyana nhằm mục đích bứng bỏ tận gốc rễ định kiến về sự thanh tịnh do sanh chủng.

Tiếp theo Đức Thế Tôn nêu ra những luận cứ để bứng bỏ những quan kiến sai lầm từ Thánh điển của Bà la môn giáo.

– Tất cả mọi giai cấp đều có thể tu tập từ tâm, không hận không sân.

Nghĩa là: Mọi giai cấp khi thành tựu tâm từ, tất cả đều có thể tái sinh về Phạm thiên giới, điều này không lệ thuộc vào giai cấp Bà la môn hay Sát đế lỵ…

Sau cùng Đức Thế Tôn nêu ra luận cứ “sự thanh tịnh do giới hạnh mang lại” để bứng bỏ định kiến sai lầm về sự thanh tịnh do sanh chủng, hay sự thanh tịnh theo Thánh điển; như sau:

– Ở đây, này Assalāyana, ngươi nghĩ sao? Có hai anh em thanh niên Bà la môn đồng mẹ khác cha; một người đọc tụng, thông hiểu Thánh điển, theo ác giới, hành ác pháp; một người không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển, nhưng giữ giới hành thiện pháp.

Ở đây, người Bà la môn cúng dường cho ai trước các cúng vật cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, hay các đồ ăn đãi khách.

– Thưa Tôn giả Gotama, vị thanh niên nào không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển, nhưng giữ giới, thực hành thiện pháp. Ở đây, các Bà la môn cúng dường cho người ấy trước các cúng vật cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, hay đồ ăn đãi khách. Bởi vì, thưa Tôn giả Gotama, cúng dường cho người theo ác giới, hành ác pháp, làm sao có quả báo lớn.

– Này Assalāyana, trước hết ngươi đi về sinh chủng. Bỏ sinh chủng, ngươi đi về Thánh điển. Bỏ Thánh điển ngươi đi về sự thanh tịnh của bốn giai cấp mà Ta đã chủ trương.

Và thanh niên Assalāyana ngồi sững sờ, ủ rủ, co vai, cúi đầu, mở miệng không ra lời.

Bài kinh trên, tuy có mục tiêu là phá vỡ một định kiến sai lầm, độc tôn về sự thanh tịnh do sanh chủng: Điều đáng ghi nhận ở đây là: “quan điểm thanh tịnh do sanh chủng này được các giáo sĩ Bà la môn xây dựng, hình thành và ngự trị trong nền tri thức của dân Ấn cổ gần cả ngàn năm, nó như trở thành một quy luật bất di bất dịch mà mọi người phải tuân thủ theo.

Nhưng với quan điểm “tất cả đều thanh tịnh khi thực hành thiện pháp” là một cơn đại chấn động làm sụp đổ toà lâu đài định kiến “thanh tịnh nhờ sanh chủng” đã ngự trị cả ngàn năm trong tri thức Bà la môn.

Tuy bài kinh không đề cập nhiều đến nữ giới, nhưng đã ngầm vạch ra hướng giải thoát mọi áp bức đang ngày càng đè nặng trên thân phân nữ tính.

Bài Kinh Ambaṭṭha

Trong bài kinh khác của Tập Trường bộ kinh I, kinh Ambaṭṭha (số 3)2(1) D.i, 87. Vai trò của nữ nhân được nâng cao.

Đệ tử của Bà la môn Pokkharasādi ở Ukkaṭṭha là thanh niên Ambaṭṭha, một thanh niên Bà la môn ưu tú, đa văn, có biện tài, thanh niên Ambaṭṭha vâng theo lời thầy đi đến yết kiến Đức Thế

Tôn ở trong rừng Icchanaṅgala để tìm hiểu Đức Thế Tôn có đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhân không?

Thanh niên Bà la môn tự hào về giòng dõi Kaṇhāyana thuộc chủng tộc Bà la môn của mình đã ngạo mạn, vô lễ trước Đức Thế Tôn, đồng thời đã ba lần buộc tội giòng họ Thích Ca là đê tiện.

Đức Thế Tôn chỉ ra nguồn gốc tổ phụ Kaṇhāyana của thanh niên Ambaṭṭha là xuất thân là con của một nữ tỳ Disā của vua Okkāka, nội tổ của bộ tộc Sakya (Thích Ca).

Với uy lực của dạ xoa Vajirapāṇi (Kim cang thủ) do vua Trời Sakka hoá ra, thanh niên Ambaṭṭha buộc phải thừa nhận đó là thật. Tiếp theo là sự đàm luận giữa Đức Thế Tôn và thanh niên Ambaṭṭha về thọ sanh giữa hai giai cấp Sát đế lỵ và Bà la môn như sau:

1. Một thanh niên Sát đế lỵ cưới một thiếu nữ Bà la môn. Một người con trai được sinh ra. Người con trai ấy có thể:

– Thọ lãnh chỗ ngồi hay nước giữa những người Bà la môn.

– Những người Bà la môn có mời người ấy dự tiệc.

– Những người Bà la môn có dạy chú thuật cho người ấy.

– Có mở cửa (là có gả con) cho người ấy với những người đàn bà Bà la môn.

– Nhưng những người Sát đế lỵ không làm lễ quán đảnh (lễ tôn vương) cho người ấy. Vì không được sinh ra từ mẫu hệ Sát đế lỵ.

2. Một thanh niên Bà la môn cưới một thiếu nữ Sát đế lỵ. Một người con trai được sinh ra. Người con trai ấy có thể:

– Thọ lãnh chỗ ngồi hay nước giữa các người Bà la môn.

– Được các người Bà la môn mời dự tiệc.

– Được các người Bà la môn dạy chú thuật.

– Được gả những người nữ Bà la môn.

– Không được người Sát đế lỵ làm lễ quán đảnh, vì không được sinh ra từ phụ hệ Sát đế lỵ.

Như vậy khi so sánh đàn bà với đàn bà, đàn ông với đàn ông, thì giai cấp Sát đế lỵ là ưu còn giai cấp Bà la môn là thấp kém.

Nghĩa là: Tuy cũng sinh ra từ người cha là dòng Sát đế lỵ, nhưng nếu mẹ thuộc dòng Bà la môn thì không được làm lễ tôn vương. Trái lại nếu mẹ thuộc dòng Sát đế lỵ thì được tôn vương.

Tuy cùng sinh ra từ mẹ thuộc dòng Sát đế lỵ nhưng cha thuộc dòng Bà la môn, thì không được làm lễ tôn vương. Trái lại nếu cha thuộc dòng Sát đế lỵ thì được.

Như vậy nữ Sát đế lỵ được xem là cao hơn nữ Bà la môn.

Và nam Sát đế lỵ cao hơn nam Bà la môn.

3. Nếu do một nguyên nhân gì, những người Bà la môn cạo đầu, tẩn xuất một người Bà la môn. Người Bà la môn bị tẩn xuất:

– Không được thọ lãnh chỗ ngồi và nước giữa các người Bà la môn.

– Không được mời dự tiệc.

– Không được các người Bà la môn dạy chú thuật.

– Không được gả các nữ Bà la môn làm vợ.

4. Do một nguyên nhân gì, một người Sát đế lỵ bị cạo đầu, bị tẩn xuất ra khỏi nước. Người Sát đế lỵ bị tẩn xuất ấy:

– Được thọ lãnh chỗ ngồi và nước uống giữa các người Bà la môn.

– Được các người Bà la môn mời dự tiệc.

– Được các người Bà la môn dạy chú thuật.

– Được gả các nữ Bà la môn làm vợ.

Như vậy cho thấy, giai cấp Sát đế lỵ bị đoạ lạc tột cùng vẫn hơn giai cấp Bà la môn bị đoạ lạc tột cùng.

kệ ngôn do Phạm thiên Sanaṅkumāra thuyết như sau:

Khattiyo seṭṭho janetasmiṃ “Đối với chúng sanh tin tưởng ở giai cấp, ye gottapaṭisārino Sát đế lỵ chiếm địa vị tối thắng ở nhân gian. Vijjācaraṇasampanno Những vị nào giới hạnh và trí tuệ đầy đủ, so seṭṭho devamānuse. vị này chiếm địa vị tối thắng giữa người và chư thiên”.

Đức Thế Tôn phá bỏ hàng rào giai cấp, một định kiến sai lạc tạo ra những bất công phi lý, không đúng pháp rồi Ngài thiết lập một hàng rào giới và tuệ để phân định chúng sanh đúng theo pháp.

Cần phải phá vỡ hàng rào giai cấp mới có thể thiết lập sự công bằng, mang đến sự bình đẳng giữa người và người, giữa nữ giới và nam giới.

Bài Kinh Pahārāda

Một bài kinh khác cho thấy Đức Thế Tôn thiết lập sự hài hoà giữa các giai cấp, giữa các giới tính. Trong Tăng Chi Kinh, chương Tám Pháp, Kinh Pahārāda (số 19)3A.iv, 197. Đức Thế Tôn dạy chúa A tu la Pahārāda rằng:

– Ví như này, Pahārāda, phàm có các sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Malū, các con sông ấy khi chảy vào biển, liền bỏ tên họ cũ trở thành biển lớn. Cũng vậy, này Pahārāda, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà la môn, Phệ xá (Vessa), Thủ đà (Sudda), sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong pháp và luật được Như Lai tuyên bố, họ từ bỏ tên và họ của họ từ trước, và họ trở thành Sa môn Thích tử.

Đoạn kinh văn trên cho thấy, Đức Thế Tôn đã phá vỡ ràng rào giai cấp, để tất cả hoà nhau làm thành một giá trị tốt đẹp, không có sự ngăn cách phân biệt sâu thẳm. Nếu nam giới xuất gia trong Giáo Pháp này thì được gọi là Tỳ Khưu, còn nữ giới thì được gọi là Tỳ Khưu Ni, ngoài ra không là chi khác.

Lại nữa, với đoạn kinh sau:

– “Ví như, này Pahārāda, biển lớn chỉ có vị mặn. Cũng vậy, Pháp và Luật này chỉ có một vị là giải thoát”

Vị mặn của biển không ưu đãi cho bất kỳ ai, cũng không khe khắt cho bất kỳ ai. Người nào nếm vị biển dù là giai cấp nào, dù là giới tính nào, dù là sinh chúng nào cũng đều cảm nhận vị mặn của biển như nhau. Cũng vậy người dù ở giai cấp nào, ở giới tính nào khi thực hành đúng pháp đều nhận được sự giải thoát giống nhau, không có sự phân biệt sang hèn, tốt xấu, nam giới hay nữ giới. Đây là điều vi diệu vô cùng.


 

  • 1
    M.ii, 147
  • 2
    (1) D.i, 87
  • 3
    A.iv, 197