Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Sơ lược Lịch sử Tu nữ Tích Lan

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Tu nữ thuộc các nước Phật giáo Nam truyền

Theo “Nguồn gốc Tu nữ Nam Tông” do cô Dhīracittā Therī biên soạn:

Vị Tu nữ Tích Lan là Ni trưởng Sudhammacārī, Ni trưởng vốn trước kia là con chiên đạo Thiên chúa, có tên là Catherine de Alwis, Ni trưởng đã từ bỏ đạo Thiên chúa, đi sang Miến Điện xuất gia Tu nữ được đặt tên là Pāli là Dhammacārī. Ni trưởng Dhammacārī đã tu học tại đất Miến Điện 11 năm.

Năm 1905 Ni trưởng Dhammacārī trở lại quê hương Tích Lan mở ra con đường cho nữ giới được xuất gia.

Tính đến thời điểm đó, Tích Lan đã trải qua mười thế kỷ không có bóng dáng Ni giới, nên khi Ni trưởng Dhammacārī trở về nước đã được ngay Thống đốc là ông Henry Blake ủng hộ cho ni đoàn Tu nữ Theravāda ra đời. Chính vợ chồng ông mua đất cất chùa cho Tu nữ. Ngôi chùa đầu tiên cho Ni đoàn Tu nữ Tích Lan toạ lạc tại thành phố Kandy, hiện nay vẫn còn lưu dấu kỷ niệm tên vợ chồng Thống đốc Henry Blake Arama, đó là chùa Lady Blake Arama.

Từ đó đến nay, ni đoàn Tu nữ Tích Lan sinh hoạt tu học dưới sự quản lý của Giáo hội. Chùa Tu nữ độc lập chùa Tăng, vật thực hằng ngày do cư sĩ cúng dường. Giáo hội cấp giấy chứng nhận xuất gia Tu nữ; cũng như đặt tên Pāli sau khi xuất gia và tên Pāli ấy được dùng trong các loại giấy tờ hành chánh thay thế tục danh.

Một tài liệu khác được khảo cứu như sau: Năm 1815 với sự phản bội của vị Vua cuối cùng, Srilanka rơi vào thời kỳ thuộc địa Anh. Trong thời thuộc địa, dưới sự cai trị của Anh, chính Anagarika Dharmapala là người tiên phong trong công cuộc chấn hưng Phật giáo. Ngài đã mở ni viện đầu tiên tại Darley Lane, Colombo. Đó không phải là một thành công. Tiếp theo ông, Cô Catherine de Alwis, người đã đến Miến Điện và được xuất gia ở đó với cách là một Tu nữ. Cô trở lại Sri Lanka vào năm 1903 và thành lập dòng Dasa Sil Mata của các nữ tu Phật giáo giữ mười giới. Như vậy, vào cuối thế kỷ 19, Tu nữ mười giới mới được tái lập ở Sri Lanka, nhờ nỗ lực của một nhà phục hưng Phật giáo tên là Anagarika Dharmapala. Năm 1903, Ni viện đầu tiên ở Sri Lanka, Brahmavamso Nuns’ Home được thành lập và được chính phủ Sri Lanka chính thức công nhận vào năm 1958.

Ban đầu Miến Điện là một quốc gia Đại thừa. Vì vậy, trong thời kỳ Đại thừa, có các Tỳ kheo Ni ở Miến Điện. Nhưng một khi đất nước được chuyển sang Phật giáo Nguyên thủy, Dòng Tỳ Khưu Ni ở đó không được công nhận. Do đó, vẫn tiếp tục có những nữ tu chỉ thọ Mười Giới. Ngay cả ngày nay vị trí vẫn như vậy. Chính từ những nữ tu này mà Sri Lanka đã nhận được 10 giới từ các nữ tu Miến Điện.

Trong ngôn ngữ Siṃhala, từ dùng cho giới Tu nữ là Silmatha, từ này được kết hợp từ hai chữ Pāli, “Sil” chính là “Sīla” nghĩa là giới, và từ “matha” chính là từ “mātā” nghĩa là mẹ. Thuật ngữ “Silmatha” nghĩa là “bậc có giới”; hoặc cách gọi khác được tìm thấy trong sách vở thường dùng là từ “DasasilNun” nghĩa là nữ tu sĩ mười giới.

Hiện nay, Chính phủ Srilanka và Giáo Hội Tăng già Srilanka vẫn không công nhận Tỳ Khưu Ni lẫn Sa Di Ni, chỉ có một số rất ít vị Tăng chấp nhận họ. Trong nội bộ Nữ Tu Srilanka, thuật ngữ ‘Manyo’ để chỉ cho các Ni sau khi xuất gia và được thọ giới Sa Di Ni, thuật ngữ ‘Mehenin Mahinse’ để chỉ cho các Nữ Tu đã thọ giới Tỳ Khưu Ni. Các Phật tử chấp nhận Tỳ Khưu Ni thì sử dụng riêng hai danh xưng này để xưng hô cho thích hợp, nhưng trên mặt giấy tờ, chứng minh thư, và cộng đồng Tích Lan nói chung vẫn gọi tất cả Nữ Tu ở Tích Lan là ‘tu nữ mười giới’. Nhìn chung, các từ dùng cho giới Tu nữ đều mang tính tôn trọng phụ nữ xuất gia.

Tu nữ Tích Lan mặc y vai trái với màu sắc đa dạng tương tự như sắc phục chư Tăng. Hiện nay trên toàn đảo quốc Tích Lan có khoảng gần 5000 vị Tu nữ.