Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Sơ lược Lịch sử Tu nữ Việt Nam

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Tu Nữ Thuộc Các Nước Phật Giáo Nam Truyền

Vị Tăng thống đầu tiên của Hệ phái Theravāda ở Việt Nam Kinh là cố Đại Trưởng lão Hộ Tông. Trước khi xuất gia Ngài đã lập gia đình và có con.

Người con gái của Ngài là bà Lê Thị xuất gia theo cha để phục vụ cha; bà Lê Thị Tư là vị Tu nữ đầu tiên của Hệ phái Theravāda Việt Nam Kinh. Khi xuất gia Tu nữ, bà có pháp danh Diệu Đáng, bà Tu nữ Diệu Đáng xuất gia theo truyền thống Theravāda tại Căm-pu-chia vào năm 1941, mặc y phục màu trắng.

Trưởng lão Hộ Tông cùng các vị Trưởng lão Việt Nam khác ở Căm- pu- chia khi trở về Việt Nam truyền bá Giáo Pháp Theravāda rộng rãi, và hệ thống Tu nữ Việt Nam Kinh được hình thành.

Vào giai đoạn Giáo hội Tăng già Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam đã thành lập và phát triển độc lập, hệ thống Tu nữ Việt Nam Kinh sinh hoạt dưới sự quản lý của Giáo hội Nguyên thuỷ, các Tu nữ được Giáo hội cấp giấy chứng nhận xuất gia Tu nữ. Vào năm 1981, giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, quy tụ các Tông-Hệ phái thành một khối, thống nhất về mặt lãnh đạo tổ chức, những truyền thống các Tông-Hệ phái đều được tôn trọng. Và khi ấy, Tu nữ Nam Tông (Theravāda) Việt Nam Kinh bị loại ra khỏi sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đến năm 2009, Giáo hội Phật giáo Việt Nam chấp nhận Tu nữ Việt Nam, cấp giấy chứng nhận xuất gia Tu nữ.

Gọi là Tu nữ là chỉ cho “người nữ xuất gia theo hệ thống Theravāda”

Hiện nay Tu nữ Việt Nam hệ Theravāda có được khoảng 700 cô. Phẩm phục không thống nhất với nhiều màu sắc, do ảnh hưởng từ các nước Miến Điện và Thái Lan như màu trắng, màu hồng cánh sen, màu nâu.

Nên ghi nhận rằng: Các vị Trưởng lão Theravāda Việt Nam Kinh nên quan tâm đến các Tu nữ Theravāda Việt Nam. Các Tu nữ Việt Nam chưa được có sự huấn luyện tốt về pháp học lẫn pháp hành, sự học pháp và hành pháp mang tính tự phát, chưa có một trường lớp nào dành riêng cho Tu nữ Việt Nam.

Các Tu nữ Việt Nam nên được rèn luyện học tập về 14 pháp hành cùng 75 Ưng học pháp. Trách nhiệm này thuộc về phần các vị Trưởng lão Theravāda Việt Nam Kinh.

Các vị Trưởng lão Theravāda Việt Nam Kinh nên ngồi lại với nhau để thống nhất về việc quan tâm đến sự học pháp và hành pháp của các Tu nữ Việt Nam. Sau đây là lời đề nghị một số điểm:

– Nên thống nhất phẩm phục Tu nữ Việt Nam.

– Nên hướng dẫn các cô Tu nữ học tập và thực hành 14 pháp hành cùng với 75 Ưng học pháp (ngoài 8 giới hay 10 giới đã thọ trì). Tôi chưa hề thấy các cô Tu nữ chào hỏi lẫn nhau, các cô Tu nữ tu sau không hề chắp tay chào hỏi cô tu nữ tu trước mình. Lỗi này là của ai? Của vị cho nữ giới xuất gia Tu nữ không hướng dẫn đệ tử, là của các vị

Trưởng lão thiếu sự quan tâm đến sinh hoạt của Tu nữ.

Một số Tu nữ không giữ được tế hạnh oai nghi khi đi vào hội chúng.

– Nên sách tấn, ủng hộ các cô Tu nữ được du học, học tập Phật Pháp ở các nước như Miến Điện, Thái Lan, Tích Lan, Ấn Độ.

– Nên có những lớp Phật học dành cho các Tu nữ Việt Nam trong nước. Nếu có sự quan tâm đúng mức của các vị Trưởng lão Việt Nam, tôi tin chắc rằng: Tu nữ Việt Nam vượt qua trình trạng hỗn độn trong hiện tại và sẽ vươn mình sánh vai cùng các Tu nữ của các nước quốc giáo.