Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Vài nhận xét về dịch phẩm

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương III.
Khôi Phục Tỳ Khưu Ni Theo Hệ Phái Nam Truyền

Vài nhận xét về dịch phẩm: “Sự phục hồi của hội chúng Tỳ Khưu Ni trong truyền thống Nguyên thuỷ” của Tỳ Khưu Ni Dhammanandā (Pháp Hỷ) (Cô Nguyên Hương)

Vào đầu thập kỷ 1990 là cuộc vận động phục hồi hội chúng Tỳ Khưu Ni trong truyền thống Theravāda, khởi xướng việc này là các vị Trưởng lão Tăng Tích Lan. Vào tháng 12 năm 1996, lễ thọ giới Tỳ Khưu Ni đầu tiên, để phục hồi hệ thống Tỳ Khưu Ni theo truyền thống Theravāda, được tổ chức tại Sanath.

Nguyên tác bằng Anh ngữ của Ngài Đại Trưởng lão Bodhi với tựa đề “The Revival of Bhikkhuni Ordination in the Theravāda Tradition” (Xuất bản tại Malaysia năm 2010) nhằm ủng hộ việc tái lập hội chúng Tỳ Khưu Ni theo truyền thống Theravāda. Cô Tỳ Khưu Ni tân lập là Dhammanandā (Pháp Hỷ, tức cô Nguyên Hương) đã dịch sang Việt ngữ với tựa đề “Sự Phục Hồi của Hội Chúng Tỳ-Khưu-Ni trong Truyền Thống Nguyên Thủy” được xuất bản bởi Nhà Xuất Bản Tôn Giáo năm 2010.

Người viết có vài nhận xét về dịch phẩm này.

1. Về từ ngữ Theravāda

Thuật ngữ ‘Theravāda’ thường được dịch là Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam tông, Phật giáo Nguyên Thuỷ. Đây là cách dịch thường gặp nhất và được sử dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, đứng trên lĩnh vực nghiên cứu, chúng ta cần tìm hiểu về mặt từ nguyên học của thuật ngữ Pāḷi này.

Trong “Tự điển Pāli- Việt” do Trưởng lão Bửu Chơn dịch từ Tự điển Pāli- English, nguyên tác của Trưởng lão Buddhadatta, “Theravāda” nghĩa là: “Thượng toạ thuyết; Phái Nam Tông, Phái Bảo thủ hay Nguyên thuỷ.”

Trong “Tự điển thuật ngữ Phật học Pāli- Anh- Việt”, nguyên tác Myat Kyaw và San Lwin, dịch giả: Đại đức Đức Hiền, “Theravāda” được dịch là: “Kinh điển của các bậc Trưởng lão”; “Thượng toạ bộ”; “Phật giáo Nam truyền”.

Theravāda được dịch là “phái Nguyên thuỷ hay Thượng toạ bộ” là đã đi xa từ nguyên (được xem như nghĩa phát sinh).

Phân tích từ nguyên học:

Theravāda = Thera + vāda

“Thera”: bậc đàn anh, bậc trưởng thượng, từ ngữ căn √Ṭhā (dừng, đứng, an trụ).

Trong “Tự điển Pāli- Từ Nguyên và Giải Tự” do Toại Khanh biên soạn, có Pāḷi giải thích từ Thera như sau:

– Ṭhāti tiṭṭhatīti thero: “Đứng yên vững chắc là trưởng lão”.

– Ṭhiratīti thero: “vững chắc là trưởng lão”.

– Thavati siñcatīti thero: “rải nước tán dương là trưởng lão” (rải nước tán dương” là chỉ cho sự tụng kinh phúc chúc đến thí chủ).

“Vāda”: lời nói, học thuyết, chủ trương, đường lối, quan điểm. Có Pāli giải thích như sau: Vadanti etenāti vādo: phát biểu được gọi là vāda (từ ngữ căn √vada: nói thuyết).

Pāli giải thích từ Theravāda là:

Theravādo aggavādoti vuccati: “Lời bậc trưởng thượng được gọi là lời cao tột”1Dpv.v, 10, 14.

Ngoài ra được gọi là Thera không phải chỉ do có thâm niên, có tuổi cao, vị được gọi là Thera phải thành tựu những pháp tác thành Thera.

Trong Tăng Chi Kinh, Chương Bốn Pháp, Kinh Tại Uruvelā II (Dutiya-Uruvelasuttaṃ) (số 22)2A.ii, 22, Đức Thế Tôn dạy:

– Nếu trưởng lão (vuddhocepi), này các Tỳ Khưu, là 80 tuổi, hay 90 tuổi, hay 100 tuổi đời, và nếu vị ấy nói phi thời (akālavādī), nói phi chân (abhūtavādī), nói phi nghĩa (anatthavādī), nói phi pháp (adhammavādī), nói những lời không đáng gìn giữ, lời nói không hợp thời cơ, không hợp lý, không có giới hạn, không có liên hệ đến mục đích, thì vị ấy chỉ được gọi là vị trưởng lão ngu (bālathera).

– Nếu là một vị trẻ tuổi, này các Tỳ Khưu, một thanh niên còn non trẻ, tóc đen nhánh, trong tuổi hiền thiện của đời, còn trong tuổi thanh xuân, vị ấy nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lời có nghĩa, nói lời đúng pháp, nói lời đúng luật, nói những lời đáng gìn giữ, nói những lời hợp thời cơ, hợp lý, có giới hạn, liên hệ đến mục đích, thời vị ấy được gọi là vị trưởng lão hiền trí (paṇḍitathera).

Và Đức Thế Tôn dạy bốn pháp tác thành vị Trưởng lão, đó là:

– Có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp.

– Là bậc nghe nhiều.

– Chứng đạt bốn thiền chứng

– Diệt trừ những ô nhiễm

Hoặc như câu Pháp cú số 260:

(260)
“Không phải là trưởng lão:
Nếu cho có bạc đầu
Người chỉ tuổi tác cao
Được gọi là “lão ngu”
Na tena thero so hoti
Yenassa palitaṃ siro
Paripakko vayo tassa
“Moghajiṇṇo” ti vuccati.
(HT Thích Minh Châu dịch)

Trong những tập Tam tạng Pāli- Việt song ngữ, do Tỳ Khưu Indacanda dịch, lời tựa được dịch từ bản tiếng Sinhala (Tích Lan) sang Việt ngữ, có dịch một đoạn về từ Theravāda như sau:

Thera là “trưởng lão”. Các thành viên của Theravāda là các vị Trưởng lão như: Trưởng lão Mahā Kassapa, Upāli, Ānanda, v.v đã tham dự cuộc kết tập Giáo Pháp lần thứ nhất đã trùng tuyên Chánh Tạng và các lời trùng tụng ấy được gọi là Theravāda.

Trong bản Sớ giải Sāratthadīpanī Ṭīkā có đề cập: “Các vị Theravāda còn được gọi là Therika (thuộc về các vị Trưởng lão). Các vị này sống chủ yếu ở Magadhya và Ujjayini. Trong số các vị này, nhóm Ujjayinī đến xứ Srilaṅkā.

Các vị Trưởng thượng “Porāṇa” (Cổ đức) của giáo hội Theravāda là những vị thầy lỗi lạc và đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thành lập giáo hội Theravāda.

Mặt khác, chữ Thera là chỉ cho vị Tỳ Khưu (vị đã thọ upasampadā – tu lên bậc trên) có được mười lần an cư mùa mưa trở lên. Có ba hạng Tỳ Khưu (bhikkhu):

1. Anuthera (Hạ trưởng lão): là chỉ cho vị Tỳ Khưu có từ một đến mười lần an cư mùa mưa (vassa).

2. Majjhimathera (Trung trưởng lão): là chỉ cho vị Tỳ Khưu có được trên 10 đến 20 lần an cư mùa mưa (vassa).

3. Mahāthera (Đại trưởng lão): chỉ cho vị Tỳ Khưu có 20 lần an cư mùa mưa trở lên.

Tóm lại, thuật ngữ “Theravāda” được hiểu là “Trưởng lão thuyết, Trưởng lão bộ”, còn các từ “Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam tông, Phật giáo Nguyên Thuỷ” là nghĩa phát sinh về sau, tuy không được phiên dịch chính xác theo từ nguyên học nhưng vẫn được đa số chấp nhận và sử dụng.

2. Về lý

Phật giáo theo truyền thống Theravāda, làm thế nào được xem là Nguyên thuỷ? Lời Phật dạy được giữ gìn trọn vẹn có lẽ chỉ ở trong khoảng một trăm năm đến một trăm năm mươi năm đầu. Ngay cả khi Đức Thế Tôn vừa viên tịch hơn ba tháng sau đã có sự rạn nứt về Luật.

Trong tập Cullavagga (Tiểu Phẩm) của Tạng Luật; chương XI. Liên Quan Năm Trăm Vị (pañcasatikakkhan): ghi nhận:

Khi cuộc trùng tuyên Phật ngôn Lần I vừa xong, có vị Trưởng lão là Purāṇa trú ở Dakkhiṇāgiri (Nam Sơn-Dakkhiṇāgiri là một ngọn núi ở phía nam thành Rājagaha), đi đến thành Rājagaha, Veḷuvana (Rừng trúc), nơi nuôi dưỡng những con sóc, chỗ các vị Tỳ Khưu. Sau khi đến đã thăm hỏi các vị Tỳ Khưu với lời chào hỏi thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.

Các vị Trưởng lão đã nói với Trưởng lão Purāṇa đang ngồi một bên điều này:

– Này hiền giả Purāṇa, Pháp và Luật được trùng tuyên bởi các Trưởng lão. Hiền giả hãy thực hành theo sự trùng tuyên ấy.

– Này các Đại đức, Pháp và Luật đã được các vị Trưởng lão trùng tuyên tốt đẹp. Tuy nhiên, tôi chỉ ghi nhận chính những gì tôi đã được nghe từ miệng và đã được thọ lãnh từ miệng của Đức Thế Tôn thôi.

Khi đối chiếu lại những gì được Trưởng lão Purāṇa thọ trì so với những gì được các vị Trưởng lão kết tập, chỉ thấy khác nhau tám điều nhỏ là:

1. Antovuṭṭha: tạm thời (yāvakālika) cất giữ thực phẩm trong chỗ ngụ.

2. Antopakka: được có bếp nấu ở chỗ ngụ.

3. Sāmapakka: được tự nấu nướng.

4. Uggahita: được thọ dụng vật thực của thí chủ chưa dâng đến Tăng.

5. Tatonīhita: được mang vật thực từ bàn ăn về chỗ ngụ.

6. Purabhatta: được dùng trước; nghĩa là khi nhận thọ trai, có quyền dùng trước ở nơi nào đó rồi đến thọ trai.

7. Vanaṭṭha: được tự do dùng bất cứ thực vật nào tự nhiên trong rừng.

8. Pokkharaṇaṭṭha: được tự do dùng bất cứ thực vật tự nhiên nào trong hồ như củ sen, củ súng, bông súng…

Điều 7 và điều 8 là cho phép Tỳ Khưu được hái lá, hái rau, đào củ rễ cây, như củ khoai, nần… hay móc củ sen…

Đây là hai giới thuộc về Pācittiya (ưng đối trị): “làm hại thực vật”.

Tám điều này Trưởng lão Purāṇa không chịu bỏ qua, Trưởng lão Mahākassapa giải thích:

“Tám điều ngoại lệ này, Đức Thế Tôn tạm thời cho phép khi có nạn đói. Khi nạn đói đi qua thì tám ngoại lệ này được đình chỉ, nếu vi phạm là phạm luật.”

Dường như tám điều này được Đức Thế Tôn cho phép trong hai lần phát sanh nạn đói, đó là: Một lần kinh thành Vesāli phát sanh nạn đói và một lần kinh thành Rājagaha phát sanh nạn đói.

Nhưng Trưởng lão Purāṇa chỉ biết: “Đức Thế Tôn có cho phép”, khi Đức Thế Tôn đình chỉ thì Ngài Purāṇa không biết và kiên quyết không bỏ tám điều này.

Thế là, khi Đức Thế Tôn viên tịch chưa bao lâu thì về Giới Luật đã có sự rạn nứt và Tăng chúng đã có sự phân thành hai nhánh, dù không nghiêm trọng lắm.

– Một nhóm nhỏ năm trăm vị Tỳ Khưu là đệ tử, đồ chúng của Trưởng lão Purāṇa.

– Chư Tăng còn lại chấp trì những gì được năm trăm vị Trưởng lão kết tập Phật ngôn.

Chính từ tám điều nhỏ này, nhóm Tỳ Khưu Vajjiputtaka thuộc nhóm của Trưởng lão Purāṇa đã cải cách thêm mười điều sai luật dẫn đến cuộc kết tập Phật ngôn lần thứ hai.

Địa điểm kết tập Phật ngôn lần thứ hai được thực hiện nơi kinh thành Vesāli, ở tự viện Vālika3Mhv. iv; các Ngài quyết định rằng: “Hội chúng nên giải quyết tranh sự này ở ngay tại nơi mà tranh sự đã sanh khởi”.

Cuộc kết tập Phật ngôn lần thứ II kéo dài tám tháng, được vua Kāḷāsoka bảo trợ, vua Kāḷāsoka này là con của vua Susānāga (không phải vua Kāḷāsoka con của vua Biṇḍusāra), cuộc kết tập Phật ngôn lần thứ II được tổ chức vào năm thứ 10 của triều đại Kāḷāsoka, nhằm Phật lịch một trăm.

Các vị Tỳ Khưu Vajjiputtaka không chấp nhận quyết định của Hội đồng giám luật: “Mười điều cải cách ấy là sai luật, sai pháp của Đức Thế Tôn”; đồng thời không chịu lắng yên.

Các vị Tỳ Khưu Vajjiputtaka phối hợp với nhóm Tỳ Khưu của nhóm Mahādeva (Đại Thiên), cùng nhau tổ chức kết tập Phật ngôn theo thể thức của họ là: “Điều nào được đa số Tỳ Khưu chấp nhận điều đó là hợp luật, hợp pháp”.

Kinh thành Vesāli là địa bàn hoạt động của các vị Tỳ Khưu Vajjiputtaka, nên các vị ấy phối hợp với nhóm Tỳ Khưu Đại Thiên ở Pāṭaliputta được mười ngàn vị.

Các vị Tỳ Khưu Vajjiputtaka gọi cuộc kết tập Phật ngôn của mình là Ācariyavāda (lời của bậc Thánh), còn cuộc kết tập của bảy trăm vị Trưởng lão là Theravāda (lời của Trưởng lão).

3. Về Pháp

Nguyên thuỷ

Được nghe rằng: Khi Trưởng lão Ānanda được một trăm hai mươi tuổi. Có lần Ngài du hành đến một tự viện, nghe vị Tỳ Khưu trẻ học tập kệ ngôn Pháp Cú rằng:

Ai sống một trăm năm
Không thấy con hạc nước
Tốt hơn sống một ngày
Thấy được con hạc nước.

Trưởng lão Ānanda dạy rằng:

– Này hiền giả, không phải vậy đâu, kệ ngôn ấy là như vầy:

“Ai sống một trăm năm
Không thấy pháp sinh diệt
Tốt hơn sống một ngày
Mà thấy pháp sinh diệt”
(Dhp. Câu số 113)

Vị Tỳ Khưu trẻ về thưa lại với thầy. Vị thầy do ngã mạn, đã nói rằng:

– Này con, Ngài Ānanda đã già rồi, Ngài nhớ nhầm lẫn đấy.

Như vậy, đây chỉ là một trường hợp học sai lạc, có những trường hợp nhớ sai lạc khác. Như trong Suttanipāta (Kinh tập), bài kinh Sừng Tê Giác (Khaggavisāṇasuttaṃ)4Sn. 6, kệ ngôn số 58.

(58)
“Bậc nghe nhiều, trì pháp
Hãy gần gũi người ấy
Bạn người tâm rộng lớn
Người thông minh biện tài
Biết điều không nên làm
Nhiếp phục được nghi hoặc
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng
Bahussutaṃ dhammadharaṃ bhajetha,
Mittaṃ ulāraṃ paṭibhānavantaṃ
Aññāya atthāni vineyya kaṅkhaṃ
Eko care khaggavisāṇakappo
(HT. Thích Minh Châu dịch)

Có vài học giả cho rằng: “Đây là kệ ngôn do các vị đa văn đưa vào, vì thời Đức Phật Độc Giác pháp không hiển lộ. Pháp dẫn đến giác ngộ hiển lộ đến chúng sanh là năng lực của vị Chánh Giác mà thôi”; làm sao có bậc đa văn được.

Nhưng trong bản Sớ giải kinh Sừng Tê Giác, giải thích:

– Gọi là bậc đa văn (bahussuta); có hai bậc đa văn: Đa văn về pháp học, là thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa trong Tam tạng. Đa văn về Giác ngộ, là thấu triệt trạng thái giác ngộ về Đạo, quả, minh và các Thắng trí.

Cho dù có đa văn về pháp hành, nhưng bậc Độc Giác không tế độ chúng sanh khác chứng đạt Thánh quả như mình, do vậy đa văn về pháp hành cũng không hiển lộ.

Một điều rõ ràng hơn là: Có hai bài kinh được đưa vào trong lần kết tập Phật ngôn lần II, đó là bài kinh Tôn giả Nārada (Nāradasutta) (số 50) thuộc Tăng Chi Kinh, Chương Năm Pháp, phẩm Vua Munda5A.iii, 57.

Hoàng hậu Bhaddā của vua Muṇḍa mệnh chung, vua Muṇḍa sầu muộn, bỏ cả ăn uống, bỏ cả việc triều chính- Tôn giả Nārada thuyết giảng pháp giúp vua Muṇḍa nhổ mũi tên sầu muộn ra.

Vua Muṇḍa

Vua Ajātasattu (A Xà Thế) giết cha là vua Bimbisāra (Bình Sa), làm vua được ba mươi hai năm, vua Ajātasattu bị con là Udayabhadda soán ngôi6Mhv.ii.

Vua Udayabhadda cai trị vương quốc Magadha được 16 năm. Trưởng lão Ānanda và Trưởng lão Upāli viên tịch vào triều đại của vị vua này7Mhv.iii.

Con vua Udayabhadda là Anuruddha soán ngôi. Vua Anuruddha giết cha rồi lên làm vua, cai trị vương quốc Magadha được bốn năm8Mhv.iv.

Vua Anuruddha lại bị con là Thái tử Muṇḍaka giết chết để soán ngôi9sđd.

Vua Muṇḍa làm vua được bốn năm lại bị con là Nāgadāsaka giết chết để soán ngôi10Mhv. Xxxiii.

Vua Nāgadāsaka làm vua được hai mươi bốn năm; bị dân chúng nổi lên lật đổ, lập vị quan thuộc bộ tộc Licchavī là Susūnāga lên ngôi.

Vua Susūnāga cai trị quốc độ được mười tám năm thì mệnh chung và Thái tử Kāḷāsoka lên ngôi.

Vua Muṇḍa trong kinh Nārada ở trên là vua Muṇḍaka của triều đại Magadha.

Như vậy bài kinh này được đưa vào lần kết tập Phật ngôn lần II.

Lại nữa, trong tập Kệ ngôn Trưởng Lão Tăng (Theragāthā) có kệ ngôn của Ngài Sabbakāma hay Sabbakāmī. Ngài Sabbakāmī là đệ tử Ngài Ānanda, là một trong tám vị Hội đồng giám luật. Như vậy, trong cuộc kết tập Phật ngôn lần I, chưa hẳn có kệ ngôn của Ngài Sabbakāmī.

Lại nữa, vào cuộc kết tập Phật ngôn lần III, bộ Kathāvatthu xuất hiện, tác phẩm này được xem là của Ngài Moggalliputta Tissa.

Như vậy, về Pháp và Luật xem như không được trọn vẹn, làm sao được gọi là Nguyên thuỷ.

Lại nữa, sự ghi chép kinh điển vào văn bản bằng tiếng Siṁhala có từ triều đại của vua Vaṭṭagāmaṇī Abhaya (101- 77 Tây lịch), tức vào khoảng Phật lịch 573- 585. (Đây là cuộc kết tập Phật ngôn lần thứ tư ở xứ Tích Lan. Cuộc kết tập này không được công nhận là kết tập, vì có tính nội bộ).

Như vậy, trải qua gần sáu trăm năm, với phương cách là khẩu truyền, làm sao không có sai lệch, không nhiều cũng ít.

Như vậy, Theravāda được dịch là “Nguyên thuỷ” thì không thích ứng, đó chỉ là cách nói theo thường dùng để gọi.

Và Theravāda ngoài cách dịch “Lời của Trưởng lão” hay “Trưởng lão bộ” có thể biến cách là “Hệ phái Nam truyền” hay “Hệ phái Nam Tông”.

Lưỡng lự, do dự

Ở trang 20 của dịch phẩm có đoạn văn được dịch như sau: “… lý do để Phật lưỡng lự là liên hệ đến sự gần gũi tiếp xúc giữa Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni…”.

Cũng trong trang 20 này, ở những dòng cuối có đoạn “có một cách hiểu sự lưỡng lự của Đức Phật khi cho phép hàng phụ nữ xuất gia…”

Ở trang 21, điều này cũng được lập lại, “bởi vì Đức Phật đã lưỡng lự khi cho phép người nữ xuất gia”.

Ở trang 36, lại có đoạn “… Mặc dù Đức Phật có thể đã do dự làm bước đầu tiên này” (là chỉ cho việc Đức Thế Tôn đã khước từ ba lần thỉnh cầu cho nữ nhân được xuất gia trong Pháp Luật này của Ngài Ānanda); sau đó Đức Thế Tôn chấp nhận.

Những từ ngữ: “lưỡng lự, do dự” là chỉ trạng thái, phân vân, nghi hoặc.

Người viết muốn hỏi: “Đức Thế Tôn còn nghi hoặc, không có sự quyết định phải không?”. Bậc Thánh Dự Lưu đã cắt đứt ba sợi dây trói buộc (Saṃyojana: kiết sử) là Thân kiến (Sakkāyadiṭṭhi), Hoài nghi (Vicikicchā) và Giới cấm thủ (Sīlabbatupādāna); nhưng bậc Chánh Giác lại còn hoài nghi sao?

Điều này cho thấy cô Tỳ Khưu Ni tân lập này chuyển ngữ tuỳ tiện, không có sự suy xét thận trọng, đã vô ý phỉ báng Đức Thế Tôn11Bản gốc tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng từ ‘hesitated’, theo từ điển Oxford và từ điển Longman, ‘hesitate’ được hiểu với nghĩa là ‘Trì hoãn, tạm thời chưa quyết định, chưa sẵn sàng để làm/nói/hành động một điều gì đó’. Mặc dù các từ điển Anh-Việt dịch ‘hesitate’ là ‘do dự, ngập ngừng, lưỡng lự’, nhưng là người học hiểu Giáo Pháp, cần chọn từ ngữ thích hợp khi chuyển dịch, đặc biệt những từ ngữ liên quan đến đức Phật, đến Giáo Pháp. Nếu trong nguyên tác có những từ ngữ có ý nghĩa tương tự như thế, tác giả cũng không tránh khỏi bị phê phán là: “bất kính Đức Thế Tôn, xuyên tạc Đức Thế Tôn, phỉ báng Đức Thế Tôn” vì cho rằng:

“Đức Thế Tôn là phàm nhân”, chỉ có phàm nhân mới còn nghi hoặc.

Bậc A La Hán thông thường (Sukhavipassanā-Lạc quán) có thể có nghi hoặc về chế định (paññatti) còn nghi hoặc về chân đế (Paramattha) thì không.

Bậc Chánh Giác cả hai loại nghi hoặc này đều không có.

Ngay cả lời tán thán Đức Thế Tôn sai pháp, Đức Thế Tôn cũng khiển trách là “vu khống (abbhācikkhati) Đức Thế Tôn”, như:

– Này Vaccha, những ai nói như sau: “Sa môn Gotama là bậc toàn tri (sabbaññū), là bậc toàn kiến (sabbadassavī). Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: “Khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ và khi ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại liên tục”. Chúng nói về Ta không đúng với điều đã được nói, chúng đã vu khống ta với điều không thực, hư nguỵ” (Trung Bộ Kinh, MN71 Tevijjavacchagottasuttaṃ).

Do đó nói Đức Thế Tôn “lưỡng lự”, “do dự” là nói điều không thật, là vu khống Đức Thế Tôn.

Cần nên hiểu biết rằng: Tuy Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, nhưng trong một thời điểm, Ngài không thể biết hết tất cả; nhưng khi Đức Thế Tôn tác ý đến điều nào, điều ấy hiện rõ trước mắt Ngài.

Khi Đức Thế Tôn ba lần khước từ lời thỉnh cầu “cho phép nữ nhân được xuất gia trong Pháp Luật này”, đó là thái độ dứt khoát, không có sự lưỡng lự phân vân.

Một sự kiện được lặp đi lặp lại ba lần; cả ba lần chỉ có một quyết định: “Này Ānanda! Thôi đi…” thì làm sao được gọi là lưỡng lự?

Vì sao Đức Thế Tôn từ khước? Vì Ngài thấy trước sự tai hại cho Tăng đoàn sẽ xảy ra. Khi nữ nhân được xuất gia trong Pháp Luật này”, giống như người thấy chứng bịnh sẽ khởi lên nên có biện pháp phòng bệnh hay như người thấy bão sẽ đến, có phương cách phòng chống từ xa hay như phòng hoả hoạn xảy đến.

Khi Ngài Ānanda đề cập đến các Thánh quả mà nữ giới có thể đạt được, Đức Thế Tôn thấy rõ, biết rõ: Nữ nhân có thể đạt đến quả vị A La Hán, nếu không được xuất gia, phải viên tịch trong ngày như đã nêu trên12J.vi, 481. Do vậy, vì lòng bi mẫn với chúng sanh nên Đức Thế Tôn chấp thuận lời thỉnh cầu của Ngài Ānanda.

Về điểm này, được hiểu như sau:

Vị chứng đắc A La Hán, còn ở phẩm mạo cư sĩ, phải xuất gia hay viên tịch ngay trong ngày ấy như:

– Trong Sớ giải kinh Pháp Cú câu số 347 (bản dịch: Đại trưởng lão Pháp Minh) ghi nhận: Hoàng hậu Khemā (vợ của vua Bimbisāra) sau khi nghe dứt kệ ngôn số 347, bà chứng đạt Thánh quả A La Hán. Đức Thế Tôn dạy vua Bimbisāra:

“Này Đại vương, nên để Hoàng hậu xuất gia hay để nàng Vô dư Níp bàn?”

“Bạch Thế Tôn, nên để Hoàng hậu Khemā được xuất gia, chớ nên để người như nàng sớm Níp bàn.”

Thế là Hoàng hậu Khemā được xuất gia trong Giáo Pháp này và trở thành vị Thánh nữ A La Hán tối thắng về hạnh trí tuệ.

– Trong Sớ giải Bổn sự Vessantara, số 547 ghi nhận:

Vua Kikī trị vì kinh thành Bārāṇasī của xứ Kāsi vào thời Đức Thế Tôn Kassapa. Cô Uracchadā con gái lớn của vua Kikī, năm 16 tuổi, nghe Pháp từ Đức Thế Tôn Kassapa, chứng Thánh quả A La Hán, nàng Uracchadā đã viên tịch trong ngày.

– Trong Milindapañha (Milinda vấn đạo); chương Anumānapañha (Các Câu Hỏi Suy Luận), Phẩm II: Không Chướng Ngại (Nippapañcavagga). Câu số hai:

– Gihī-arahantapañho: “Câu hỏi về người tại gia chứng A La Hán”.

Ngài Nāgasena trả lời vua Milinda:

– Thưa Đại vương, người tại gia khi đạt được phẩm vị A La Hán (phải) xuất gia, hoặc viên tịch Níp bàn nội trong ngày ấy.

Và Ngài Nāgasena giải thích như sau:

“Vị A La Hán không thể tự mình xuất gia, vì như thế là phạm vào việc trộm cắp (hình tướng)” và: “vì phẩm mạo tại gia yếu ớt không thể nâng đỡ nổi Thánh quả A La Hán, ví như người nam yếu đuối, có dòng dõi thấp kém, có phước báu nhỏ; khi nhận được vương quyền to lớn, trong khoảnh khắc sẽ sụp đổ, không thể duy trì được Vương quyền.

Về lời dạy: “Này Ānanda, giờ đây Thánh Pháp (Saddhamma) sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm”

Ngài Nāgasena giải thích trong câu hỏi của vua Milinda (câu số 7) trong phẩm “năng lực của thần thông (iddhibalavaggo) là:

(7)
“Câu hỏi về sự biến mất của chánh pháp”.
Saddhammantaradhānapañha

– Thưa Đại vương, trong lời dạy: “Này Ānanda, Thánh pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm”, là Đức Thế Tôn làm sáng tỏ sự hoại diệt và Ngài xác định phần còn lại.

Nghĩa là Đức Thế Tôn tuyên bố lên sự hoại diệt Thánh pháp là năm trăm năm và xác định phần còn lại của Thánh pháp (Saddhamma) là năm trăm năm.

Ví như người bị phá sản, sau khi nắm rõ phần tài sản còn lại, có thể làm sáng tỏ với dân chúng rằng:

“Phần hàng hoá của tôi bị mất là chừng này, đây là phần còn lại”

Thưa Đại vương, tương tự như thế, Đức Thế Tôn, trong khi làm sáng tỏ việc bị tiêu hoại, đã thuyết giảng cho chư thiên và nhân loại rằng: “Này Ānanda, giờ đây Chánh pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm”.

Và khi vua Milinda hỏi:

– Thưa Ngài Nāgasena, điều Ngài nói là: “Sự biến mất của Chánh pháp (Saddhamma)”; sự biến mất của chánh pháp ấy là gì?

– Thưa Đại vương: đây là sự biến mất của Giáo Pháp (Sāsanantaradhānāni). Thế nào là ba?

Sự biến mất của việc chứng đắc (adhigamantaradhānaṃ); Sự biến mất của việc thực hành (Paṭipattantaradhānaṃ); sự biến mất của tướng mạo (liṅgantaradhānaṃ)

Thưa Đại vương, việc chứng đắc bị biến mất, thì ngay cả đối với những người thực hành tốt đẹp cũng không có sự lãnh hội Giáo Pháp.

Khi việc thực hành bị biến mất, thì điều học và sự quy định bị biến mất, chỉ còn tồn tại tướng mạo.

Khi tướng mạo biến mất thì có sự đứt đoạn của truyền thống.

Thưa Đại vương, đây là ba sự biến mất của Giáo Pháp.

Trong Sớ giải kinh Tăng Chi trình bày sự biến mất của diệu pháp (Saddhamma) diễn tiến theo tuần tự như sau:

– Trước tiên là biến mất Pháp thành (adhigamāntaradhānaṃ).

– Tiếp đến là biến mất về Pháp hành (paṭipattiantaradhānaṃ)

– Tiếp đến là biến mất Pháp học (pariyattiantaradhānaṃ).

– Rồi biến mất tướng mạo (liṅgāntaradhānaṃ)

– Cuối cùng là sự biến mất của xá lợi Phật (dhātuantaradhānaṃ)13AA1. 87.

Như vậy, Thánh pháp (Saddhamma) trong lời dạy của Đức Thế Tôn với Ngài Ānanda: “Này Ānanda ngay trong ngày ấy, cư sĩ đạt Thánh quả A La Hán…” là chỉ cho Thánh quả A La Hán.

Vào thời đức Phật có rất nhiều cư sĩ đắc Thánh quả Bất Lai như Trưởng giả Citta Macchikāsandika; cư sĩ Hatthaka Āḷavaka, nữ cư sĩ Uttarānandamātā14Tăng Chi Kinh, chương Một Pháp, phẩm Người Tối Thắng A.i, 25, và những vị này không cần xuất gia mà vẫn sống cho đến hết tuổi thọ. Như vậy, trong thời đại hiện nay, người nữ vẫn có thể tu tập và đắc Thánh quả cao nhất là Bất Lai mà không cần thọ giới Tỳ Khưu Ni, như vậy việc phục hồi Tỳ Khưu Ni không phải là vấn đề thiết yếu đối với Thánh quả.

Lại nữa, Đức Thế Tôn chấp thuận cho nữ nhân xuất gia vì lòng bi mẫn với những nữ nhân có duyên lành với Thánh quả từ Dự Lưu đến A La Hán. Nếu những nữ nhân này không được nghe diệu pháp thì khó mà chứng đạt Thánh quả.

Trong Tương Ưng Kinh V, chương Tương Ưng Dự Lưu (Sotāpattisaṃyuttaṃ), kinh Sāriputta 2 (Dutiyasāriputtasuttaṃ)15S.v, 347. Đức Thế Tôn hỏi Ngài Sāriputta:

– Dự Lưu phần (Sotāpattiyaṅgaṃ), Dự Lưu phần, này Sāriputta, được nói như vậy. Này Sāriputta, thế nào là Dự Lưu phần?

Thân cận bậc chân nhân (Sappurisasaṃsevo), bạch Thế Tôn là Dự Lưu phần; Nghe diệu pháp (Saddhammassavanaṃ) là Dự Lưu phần; Sanh khởi tác ý đúng (yonisomanasikāro) là Dự Lưu phần; Thực hành pháp và tuỳ pháp (Dhammānudhammappaṭipatti) là Dự Lưu phần.

Như vậy, cho thấy sự xuất gia của nữ giới trong Pháp Luật của Đức Thế Tôn có lợi ích đối với nữ nhân.

Trong Sớ giải kệ ngôn Trưởng lão Ni (Therīgāthā- aṭṭhakathā) cho thấy nhiều nữ Ni được nghe lời dạy của Đức Thế Tôn, chứng đạt Thánh quả A La Hán như: Trưởng lão Ni Muttā, Trưởng lão Ni Tissā…

Các vị Thánh nữ A La Hán có biện tài sẽ thuyết giảng chánh pháp đến chúng sanh như Trưởng lão Ni Mahāpajāpati Gotamī, Trưởng lão Ni Khemā… làm lợi ích đến chúng sanh. Hoặc là người nào cung kỉnh, phục vụ, cúng dường đến các Ngài có vô lượng phước báu.

Trong Tương Ưng Kinh I, chương Tương Ưng Dạ Xoa (Yakkhasaṃyuttaṃ), kinh Sukkā16A.i, 212 Vị Thánh nữ A La Hán Sukkā thuyết giảng pháp đến hội chúng đang vây quanh.

Một dạ xoa có tâm tịnh tín với Trưởng lão Ni Sukkā đã đi khắp thành Rājagaha, kêu gọi dân chúng đến nghe pháp từ vị Thánh nữ A La Hán Sukkā.

Như vậy, Đức Thế Tôn chấp thuận cho nữ nhân xuất gia trong Pháp Luật này là do tâm bi mẫn đối với những nữ nhân có duyên lành với Thánh quả, như người giữ gìn tài sản cần gìn giữ, đồng thời có tâm bi mẫn với chúng sanh.

Nhượng bộ

Trang 18 của dịch phẩm: “Đầu tiên đức Phật từ chối lời yêu cầu này, nhưng sau đó lại nhượng bộ. Trong sự nhượng bộ, Ngài không chỉ đơn giản đồng ý cho phép phụ nữ xuất gia”

Một điều rất quan trọng chúng ta cần hiểu: Đức Thế Tôn là bậc hành xử theo pháp, nói đúng pháp, như trong Trung Bộ Kinh, kinh Assalāyana (Trung Bộ Kinh, MN93)17M.ii, 147 ghi nhận:

Thanh niên Assalāyana nói với các Bà la môn “Sa môn Gotama là vị nói đúng pháp, và những ai nói đúng pháp thật rất khó thảo luận”.

Do đó, không nên nói Đức Thế Tôn, bậc nói đúng pháp nhượng bộ Ngài Ānanda; nên nói rằng:

“Đức Thế Tôn chấp nhận lời thỉnh cầu đúng theo pháp của Ngài Ānanda”18Bản tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng từ “yield”. Theo Từ điển Oxford, “yield” có ý nghĩa là ‘đưa ra, đem lại kết quả, tuyên bố một kết quả nào đó” (produce or deliver a result or gain).

Tương tự, Đức Thế Tôn chấp thuận tám điều cầu xin của bà Visākhā mẹ của Migāra:

Trong Tạng Luật, bộ Đại Phẩm I (Mahāvagga I), chương Y Phục (Cīvarakkhandhakaṃ) ghi nhận:

Bà Visākhā mẹ của Migāra có cầu xin Đức Thế Tôn tám điều ước muốn.

Đức Thế Tôn dạy:

– Này Visākhā, các Đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.

– Bạch Thế Tôn, các điều ấy là hợp lý, các điều ấy không bị chê trách.

Và Đức Thế Tôn chấp thuận, khi bà Visākhā trình bày tám điều ước muốn ấy hợp lý. Không đáng bị chê trách.

Lại nữa, ở trang thứ 21 của dịch phẩm lại ghi rằng “Tương tự như vậy, bởi vì Đức Phật lưỡng lự khi cho phép người nữ xuất gia, vì sợ rằng…”. Bậc Chánh Đẳng Giác còn lo sợ phải không? Hỡi dịch giả?

Còn khá nhiều từ dùng không cân nhắc, nhưng thôi, xin dừng lại ở đây, để nói đến những điều khác.

4. Về một vài đoạn văn

Giới trí thức

Ở ngay trang đầu của dịch phẩm có mô tả: “sự phục hồi của lễ thọ giới Tỳ-khưu-ni được vận động và tiến triển trong cộng đồng Phật giáo Nguyên thủy, mà mũi dẫn đầu là chư Tăng Ni người Tích Lan (Sri Lanka). Với sự ủng hộ của một số vị Tăng có học vấn cao…”

Điều này cũng được lặp lại ở trang 37 của dịch phẩm là: “Trong quan điểm của nhiều vị sư có học thức, chủ yếu là ở Srilaṅka…”. Dường như đó là một sự thật hiển nhiên, không có gì để bàn cãi, dường như để củng cố sự ủng hộ phục hồi Tỳ Khưu Ni được vững mạnh cho nên các học giả trí thức được nêu ra ở đây. Nếu tác giả của tư tưởng này có ý nêu tên các học giả trí thức ủng hộ theo tư tưởng của mình, đồng thời xem thường những vị Trưởng lão không ủng hộ hoặc không chấp nhận sự phục hồi Tỳ Khưu Ni theo truyền thống Theravāda là ít học vấn, thiếu kiến thức, không khéo thì rơi vào “Khen mình, chê người” (Attukkaṃsakā paravambhī)19Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Số 4, Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Số 15; Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Số 29; Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Số 39, điều này Đức Phật khiển trách, bởi đây là một ác bất thiện pháp.

Sự ủng hộ phục hồi Tỳ Khưu Ni theo truyền thống Theravāda hay không đồng tình, không chấp nhận, chỉ là tư tưởng, là ý thức hệ mà thôi, không liên quan gì đến học vấn. Các vị Trưởng lão có quan điểm gìn giữ nguyên vẹn Pháp Luật cũng là những bậc uyên thâm Phật học, các vị Tam Tạng (như các Ngài Trưởng lão, các vị Sayadaw ở Miến Điện…), các vị lãnh đạo Giáo hội Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện.

Nếu cho rằng: “Các vị không đồng tình với việc phục hồi hội chúng Tỳ Khưu Ni theo truyền thống Theravāda, là học vấn thấp hay kém học thức, thì e rằng “xúc phạm đến Tăng chúng”, điều này chính là một trong những nguyên nhân khiến Giáo Pháp bị thối giảm20Tăng Chi Kinh, Chương Sáu Pháp, phẩm Chư Thiên, kinh Tôn giả Kimbila, A.iii, 339.

Đặt rào cản

Ở trang 8 của dịch phẩm có ghi:

“Những người bảo thủ trong truyền thống Nguyên thuỷ giỏi về Luật đặt rào cản ở ba giai đoạn”.

Cần hiểu biết rằng: Những vị Trưởng lão thông Luật, giỏi về Luật, các Ngài không đặt rào cản.

Cái được gọi là “rào cản” đó, chính là những quy định được thiết lập từ Đức Thế Tôn. Các vị Trưởng lão thông Luật theo phương châm được quy định từ Đức Thế Tôn mà thực hành. Gọi các vị Thông Luật, giỏi Luật đặt ra rào cản là sự vu khống cho các vị Trưởng lão ấy21Bản tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng cụm từ “posit hurdles”. Trong đó ‘posit’ có nghĩa là ‘ấn định, thừa nhận, cho điều gì đó là đúng, đặt ở vị trí’; còn ‘hurdle’ có nghĩa là ‘một vấn đề, một khó khăn cần phải đối diện trước khi thành tựu một điều gì đó’ (a problem or difficulty that you must deal with before you can achieve something: Từ điển Oxford).

Trang 36-37

Ở trang 36 của dịch phẩm, cho rằng: “Thể lệ của lễ thọ giới (Tỳ Khưu Ni) chỉ là hợp thức có tính máy móc để bổ sung vào quyết định đó” (là quyết định cho nữ giới được xuất gia trong Pháp Luật này).

Thú thật mà nói, khi đọc những dòng này, tôi có cảm nghĩ: “Những người nầy, dù họ là ai đã bất kính với Đức Thế Tôn”. Những nghi thức để làm thành tựu phẩm mạo, giới hạnh của bậc xuất gia, và họ cho là “hợp thức có tính máy móc22Bản tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng cụm từ “legal mechanics”. Ở đây, ‘legal’ có nghĩa là ‘hợp pháp, thuận theo luật lệ’, còn ‘mechanic’ có nghĩa là ‘cách thức mà một cái gì đó được thực hiện hoặc vận hành; thực tiễn hoặc chi tiết của một cái gì đó’ (the way in which something is done or operated; the practicalities or details of something – Từ điển Oxford). Như vậy, cụm từ “legal mechanics” có thể được hiểu là ‘sự vận hành/cách thức đúng Pháp/Luật’.. Xem ra họ chẳng quí trọng gì phẩm mạo Tỳ Khưu hay Tỳ Khưu Ni chi cả.

Những người này không biết rằng phẩm vị Tỳ Khưu Ni được sinh ra bằng pháp, có kết quả là “đầy đủ giới” hay gọi là “giới bậc trên-Upasampadā”. Không có những nghi thức ấy, không có tuyên ngôn hỏi ý Ni chúng, Tăng chúng thì Upasampadā không hình thành.

Dịch giả đã khinh thường lời Tuyên ngôn Tăng sự do Đức Thế Tôn ban hành: điều này không thể chấp nhận được.

Ở trang 37 của dịch phẩm: có cho rằng: Việc phục hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda, có thể phối hợp Tỳ Khưu Theravāda với các Tỳ Khưu Ni thuộc Pháp Tạng Bộ (Dhammaguptaka) (về điều này sẽ xin được có ý kiến ở phần sau). Bản dịch phẩm có ghi:

“Cách tiếp cận này đối với lễ truyền thọ giới pháp có thể không thoả mãn hầu hết các khắc nghiệt của những người bảo thủ Luật ở trong truyền thống Nguyên thuỷ; Cụ thể là nó23Nghi thức do Đức Phật chế định mà cô Tỳ Khưu Ni tân lập này goi là Nó, thì không chấp nhận được. phải được thực hiện với các Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni nguyên thuỷ; những người đã được thọ giới trong truyền thống Theravāda theo đúng dòng không bị gián đoạn. Nhưng đặt ra yêu cầu không khả thi đó như là một Luật lệ không thoả hiệp cho việc phục hồi lại Hội chúng Ni nguyên thuỷ có vẻ như một sự khó khăn không hợp lý.”

Ở đây, điều Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni phải thuộc truyền thống Theravāda, có phải là điều kiện khắc nghiệt không?24Bản tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng từ “rigorous”. Đây là tính từ, được giải thích trong Từ điển Oxford có nghĩa là ‘cực kỳ kỹ lưỡng, đầy đủ, hoặc chính xác’ của một quy tắc, hệ thống, v.v. được áp dụng hoặc tuân thủ nghiêm ngặt’ (extremely thorough, exhaustive, or accurate of a rule, system, etc. strictly applied or adhered to) Hay đó là sự quy định được Đức Phật cho phép được truyền thừa cho đến khi Tỳ Khưu Ni Theravāda vắng bóng.

Thực tế cho thấy rằng: Khi Tỳ Khưu Ni thuộc hệ Theravāda vắng bóng trên đảo Tích Lan, các Tỳ Khưu Ni của các bộ phái ngoài Hệ phái Theravāda vẫn còn, nhưng vì sao các vị Trưởng Lão tiền bối Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan không phối hợp các Tỳ Khưu thuộc Theravāda và các Tỳ Khưu Ni thuộc Hệ phái khác để thành lập Hội chúng Ni?

Lại nữa; nếu các vị Trưởng Lão thông Luật, giỏi Luật thoả hiệp với việc thọ giới kép là các Tỳ Khưu hệ Theravāda phối hợp với Tỳ Khưu Ni hệ Mahāyāna, thành lập Tỳ Khưu Ni hệ Theravāda thì các vị ấy còn được gọi là Bảo thủ không? Hay được gọi là theo Hệ phái phát triển?

“Khó khăn không hợp lý”

Vì sao lại gọi là “Khó khăn không hợp lý?”.

Ở trang 26 của dịch phẩm có ghi: “Hơn nữa, trong các nước Phật giáo ở Châu Á, những nữ tu theo cách thọ giới (bậc thấp) thay thế đó, thường không được các hàng tín thí kính trọng như là các Tỳ Khưu Ni có thể tạo ra”.

Dịch phẩm này được hoàn thành năm 2010; cho rằng các nữ tu không được kính trọng như các Tỳ Khưu Ni. Điều này nên xét lại.

Theo tập nguồn gốc Tu nữ Nam Tông do cô Tu nữ Mỹ Thuý-Dhīracittā Therī biên soạn, các Tu nữ Tích Lan, Miến Điện và Thái Lan rất được các người gia chủ kính trọng. Vấn đề này sẽ được trình bày ở phần sau.

Lại nữa, xin được phép hỏi các Ngài Trưởng lão có học vấn cao, có tư tưởng phục hồi Hội chúng Tỳ Khưu Ni Theravāda để các nữ Ni này có sự kính trọng của hàng tín thí phải không?

Trong Tương Ưng Kinh II, chương Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kỉnh (Lābhasakkārasaṃyuttaṃ), kinh Lưỡi Câu (Baḷisasuttaṃ)25S.ii, 226, Đức Thế Tôn dạy:

“Ví như này các Tỳ Khưu, một người câu cá quăng một lưỡi câu gắn mồi thịt, vào trong hồ nước sâu và một con cá có mắt thấy mồi thịt, nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy này các Tỳ Khưu, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai hoạ, bị người câu cá muốn làm gì thì làm. Người câu cá, này các Tỳ Khưu, chỉ cho ma; lưỡi câu, này các Tỳ Khưu chỉ cho lợi đắc, cung kỉnh, danh vọng.

Và Đức Thế Tôn dạy:

“Đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng không đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.

Mặt khác, đời sống tu sĩ nói chung (cả nam lẫn nữ) có bốn điều là: Ăn, mặc, ở và thuốc trị bịnh; xuất gia trong Giáo Pháp này là để học pháp (gandhadhura) và hành pháp (vipassanā)26DhpA.i, 7. Và hàng tín thí kính trọng bậc xuất gia trong sạch hay là kính trọng do vị ấy là Tỳ Khưu hay Tỳ Khưu Ni?

Giả định

Ở trang 33 của dịch phẩm, có ghi: “Đôi khi chỉ đơn giản thay đổi các giả định có thể viết lại những nguyên lý của Giới Luật trong ánh sáng hoàn toàn mới mẻ”.

Nhưng các giả định đó là gì? Phía trước đó cũng có sự mập mờ khi nói: “Khiến chúng ta không thể phân biệt đâu là từ nguyên văn Luật Tạng, đâu là sự diễn giải của truyền thống”.

Vậy văn bản trong Tạng Luật không phải là nguyên văn lời Phật dạy phải chăng? Và Luật Tạng không còn trọn vẹn những gì Đức Phật dạy, có những điều được cải cách đưa vào phải không? Nếu có những điều được đưa vào Luật Tạng, đó là những điều gì? Sự thực hành theo lời Phật dạy không được gọi là truyền thống phải không? Một loạt những câu hỏi được nêu ra, dĩ nhiên điều giả định đó là gì? Làm sao biết được: “đó là những điều giả định để thay đổi”?

Lại nữa nói rằng “Thay đổi các giả định có thể viết lại những nguyên lý của Giới Luật trong ánh sáng hoàn toàn mới mẻ”; ai là người làm được điều đó? Trong khi không thể xác định điều giả định đó là gì? Và điều đó có phải là việc làm thuộc lãnh vực Thượng thủ Thinh văn như Ngài Sāriputta hay Ngài Moggallāna hay chăng? Hay đó là việc làm của Bậc Chánh Đẳng Giác? Và người viết lại “những nguyên lý của Giới Luật trong ánh sáng hoàn toàn mới mẻ”, người đó là bậc Chánh Giác phải không?

Thật vậy, không thể nào chấp nhận lý lẽ này. Còn rất nhiều đoạn văn trong dịch phẩm lệch lạc như thế; nhưng xin tạm ngừng để bước sang vấn đề khác quan trọng hơn.

5. Về sự phục hồi Hội chúng Tỳ Khưu Ni theo truyền thống Theravāda

Trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu “Truyền thống của Tạng Luật”.

Đức Thế Tôn khi chế định Học giới hay nghi thức cho các đệ tử, sau khi chế định học giới hay nghi thức xong, sau đó Đức Thế Tôn tuỳ theo điều kiện phát sinh, Ngài có thêm phụ chế định (anupaññatti). Như: Trong Tạng Luật, bộ Phân tích giới Tỳ Khưu (bhikkhuvibhaṅga), chương Ưng Xả (nissaggiya); điều học thứ I.

Khi Đức Thế Tôn ngự nơi thành Vesāli, ở tháp thờ Gotamaka. Vào lúc bấy giờ ba y đã được Đức Thế Tôn cho phép đến các Tỳ Khưu.

Các Tỳ Khưu nhóm lục sư (nghĩ rằng): “Ba y đã được Đức Thế Tôn cho phép” nên đi vào làng với ba y, mặc ở trong tu viện với ba y khác và đi xuống tắm với ba y khác nữa.

Các Tỳ Khưu ít ham muốn trình lên Đức Thế Tôn vấn đề này. Do duyên sự này Đức Thế Tôn chế định học giới: “Vị Tỳ Khưu nào sử dụng y phụ trội thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị)”.

Vào lúc ấy, Đại đức Ānanda phát sanh y phụ trội. Đại đức Ānanda có ý muốn dâng y này đến Đại dức Sāriputta đang cư ngụ ở Sāketa.

Đại đức Ānanda khởi ý rằng:

Điều học đã được Đức Thế Tôn quy định là: “Không được sử dụng y phụ trội” và y phụ trội đã phát sanh đến ta và ta có ý định dâng y này đến Đại đức Sāriputta mà Đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa, vậy ta nên thực hành như thế nào? Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy đến Đức Thế Tôn.

– Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi đến đây.

– Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hay ngày thứ mười.

Do nhân ấy, nhân sự kiện ấy Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại thích hợp, rồi bảo các Tỳ Khưu:

– Này các Tỳ Khưu, ta cho phép cất giữ (dhāreti) y phụ trội tối đa là mười ngày.

Và này các Tỳ Khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi vấn đề y đã được dứt điểm đối với vị Tỳ Khưu tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực, y phụ trội được cất giữ tối đa mười ngày. Vượt qua hạn ấy thì (y ấy) nên được xả bỏ (nissaggiya) và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị)”.

Và các Tỳ Khưu thực hành theo điều chế định thêm (anupaññatti), điều được chế định ban đầu xem như vô hiệu.

Trong Luật Tỳ Khưu rất nhiều điều được phụ chế định (anupaññatti) như vậy.

Trong Luật Tỳ Khưu Ni cũng có vài điều học như thế, như điều Saṅghādisesa (Tăng tàn) thứ 3: Tỳ Khưu Ni đi một mình.

Sự phụ chế định trong điều học này không làm mất hiệu lực điều chế định trước, trái lại bổ sung thêm điều chế định trước. Điều học này có ba lần phụ chế định, nên có bốn trường hợp vị Tỳ Khưu Ni đi một mình đều phạm vào tội Saṅghādisesa (Tăng tàn) cần được tách riêng, đó là:

“Vị Tỳ Khưu Ni nào đi vào làng một mình, hoặc đi sang bờ bên kia sông một mình hoặc ban đêm trú riêng một mình, hoặc một mình tách rời ra khỏi nhóm; Vị Tỳ Khưu Ni này cũng phạm ngay từ lúc mới vừa vi phạm là tội Saṅghādisesa (Tăng tàn) cần được tách riêng”.

Hoặc là trong chương Pācittiya (ưng đối trị), điều học thứ 84, ghi nhận:

Các vị Tỳ Khưu Ni thuộc nhóm Lục sư sử dụng dù dép, dân chúng phàn nàn, chê bai.

Do sự kiện này Đức Thế Tôn chế định học giới: “Vị Tỳ Khưu Ni nào sử dụng dù dép thì phạm pācittiya”.

Vào lúc bấy giờ, có vị Tỳ Khưu Ni nọ bị bệnh, không có dù dép, vị Ni ấy không được thoải mái. Các vị trình lên Đức Thế Tôn việc này. Đức Thế Tôn phụ chế định là: “Vị Tỳ Khưu Ni nào không bị bệnh, sử dụng dù dép thì phạm ưng đối trị”. Như vậy điều chế định thêm (anupaññatti) có hai mục đích:

a. Huỷ bỏ điều chế định trước, thực hành điều phụ chế định.

b. Tăng cường thêm điều chế định có trước.

Trở lại việc xuất gia tu lên bậc trên (upasampadā) cho nữ giới. Ban đầu khi chưa có các Tỳ Khưu Ni, nên Đức Thế Tôn cho phép các Tỳ Khưu:
“Này các Tỳ Khưu, ta cho phép các Tỳ Khưu được ban phép tu lên bậc trên đến các Tỳ Khưu Ni”.

Cách này được gọi là “Eka upasampadā”: “Thọ giới bậc trên một phía”; nghĩa là Tỳ Khưu Ni thọ giới không có hội chúng Tỳ Khưu Ni”.

Về sau khi hội chúng Tỳ Khưu Ni phát triển, phát sinh hai mươi bốn điều trở ngại của nữ nhân. Đức Thế Tôn cho phép các Tỳ Khưu hỏi các nữ nhân muốn tu lên bậc trên về hai mươi bốn pháp chướng ngại của người nữ. Đây là sự chế định thêm lần thứ nhất.

Khi các vị Tỳ Khưu hỏi các pháp chướng ngại của các Tỳ Khưu Ni. Các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cỡ, không thể trả lời. Các vị trình lên Đức Thế Tôn việc này:

– Này các Tỳ Khưu, ta cho phép sự tu lên ở hội chúng Tỳ Khưu đến người nữ đã được tu lên bậc trên từ một phía (ekata upasampadā) ở hội chúng Tỳ Khưu Ni, (và) được trong sạch.

Đây là phụ chế định lần hai.

Và sự cho nữ giới xuất gia tu lên bậc trên được thực hiện hai lần: Lần I được thọ giới tu lên bậc trên từ nơi hội chúng Tỳ Khưu Ni, sau khi đã hỏi hai mươi bốn pháp chướng ngại xong.

Lần II được thọ giới tu lên bậc trên từ hội chúng Tỳ Khưu. Đây là sự phụ chế định lần hai, kinh văn ghi: (cô ni ấy) nên đi đến hội chúng Tỳ Khưu, đắp thượng y ở một bên vai, đảnh lễ ở chân các Tỳ Khưu, ngồi chổm hổm, chấp tay lên và nên cầu xin sự tu lên bậc trên.

Không thấy kinh văn đề cập đến hội chúng Tỳ Khưu Ni có mặt trong lần này.

Những lời cầu xin sự tu lên bậc trên và tuyên ngôn làm cho thành tựu giới Tỳ Khưu Ni, được Đức Thế Tôn chỉ dạy rõ ràng.

Do đó không thể nói “thể lệ của lễ thọ giới chỉ là hợp thức có tính máy móc…” như dịch phẩm đã ghi ở trang 36.

Và nghi thức thọ giới Tỳ Khưu Ni được gìn giữ cho đến khi vắng bóng Tỳ Khưu Ni.

Các vị Trưởng lão Tích Lan, cùng những vị muốn khôi phục lại hội chúng Tỳ Khưu Ni cho rằng: “Khôi phục lại hội chúng Tỳ Khưu Ni bằng hai cách:

1. Tăng đoàn có quyền trở lại làm lễ thọ giới đơn cho Tỳ Khưu Ni

2. Để giữ thể lệ thọ giới kép, các Tỳ Khưu Nguyên thuỷ (Theravāda) có thể phối hợp với các Tỳ Khưu Ni thuộc các nước Đông Nam Á theo truyền thống Pháp Tạng (Dharmaguptaka vinaya) (theo dịch phẩm trang 37).

Như đã trình bày: Nghi thức cho xuất gia thọ giới bậc trên (là thành tựu Tỳ Khưu Ni) phải qua hai bước: Cô ni tập sự (Sikkhamānā) được tu lên bậc trên nơi hội chúng Tỳ Khưu Ni, sau đó được tu lên ở hội chúng Tỳ Khưu. Đó là quy định sau cùng của Đức Thế Tôn về thể thức cho tu lên bậc trên đối với cô ni tập sự.

Sau đây là lập luận của các vị ủng hộ sự phục hồi hội chúng Tỳ Khưu Ni theo truyền thống Theravāda.

Các vị ấy cho rằng: “Có ba rào cản được đặt ra tại điểm khởi đầu của phần này-Pabbajjā (xuất gia, chỉ cho xuất gia Sadi Ni), Sikkhāmānā (Thức xoa ma na là cô ni tập sự thọ sáu giới trọn hai năm) và Upasampadā (tu lên bậc trên, chỉ cho Tỳ Khưu Ni).

Ba rào cản được ghi trong dịch phẩm trang 38; ba rào cản này do ai đặt ra? Không có câu trả lời rõ ràng, chỉ nói chung chung là “ba rào cản” vậy thôi; Phải chăng các vị ủng hộ sự khôi phục hội chúng Tỳ Khưu Ni theo truyền thống Theravāda cho rằng: “Các vị tuân thủ về Luật đặt ra ba rào cản này”. Xin trả lời rằng: Các vị tuân thủ Luật không có thẩm quyền đặt ra. Vậy ai là người đặt ra? Chính là Đức Thế Tôn; Đức Thế Tôn đã chế định sự xuất gia tu lên bậc trên cho nữ giới.


Ghi chú

  • 1
    Dpv.v, 10, 14
  • 2
    A.ii, 22
  • 3
    Mhv. iv
  • 4
    Sn. 6
  • 5
    A.iii, 57
  • 6
    Mhv.ii
  • 7
    Mhv.iii
  • 8
    Mhv.iv
  • 9
    sđd
  • 10
    Mhv. Xxxiii
  • 11
    Bản gốc tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng từ ‘hesitated’, theo từ điển Oxford và từ điển Longman, ‘hesitate’ được hiểu với nghĩa là ‘Trì hoãn, tạm thời chưa quyết định, chưa sẵn sàng để làm/nói/hành động một điều gì đó’. Mặc dù các từ điển Anh-Việt dịch ‘hesitate’ là ‘do dự, ngập ngừng, lưỡng lự’, nhưng là người học hiểu Giáo Pháp, cần chọn từ ngữ thích hợp khi chuyển dịch, đặc biệt những từ ngữ liên quan đến đức Phật, đến Giáo Pháp
  • 12
    J.vi, 481
  • 13
    AA1. 87
  • 14
    Tăng Chi Kinh, chương Một Pháp, phẩm Người Tối Thắng A.i, 25
  • 15
    S.v, 347
  • 16
    A.i, 212
  • 17
    M.ii, 147
  • 18
    Bản tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng từ “yield”. Theo Từ điển Oxford, “yield” có ý nghĩa là ‘đưa ra, đem lại kết quả, tuyên bố một kết quả nào đó” (produce or deliver a result or gain)
  • 19
    Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Số 4, Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Số 15; Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Số 29; Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Số 39
  • 20
    Tăng Chi Kinh, Chương Sáu Pháp, phẩm Chư Thiên, kinh Tôn giả Kimbila, A.iii, 339
  • 21
    Bản tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng cụm từ “posit hurdles”. Trong đó ‘posit’ có nghĩa là ‘ấn định, thừa nhận, cho điều gì đó là đúng, đặt ở vị trí’; còn ‘hurdle’ có nghĩa là ‘một vấn đề, một khó khăn cần phải đối diện trước khi thành tựu một điều gì đó’ (a problem or difficulty that you must deal with before you can achieve something: Từ điển Oxford)
  • 22
    Bản tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng cụm từ “legal mechanics”. Ở đây, ‘legal’ có nghĩa là ‘hợp pháp, thuận theo luật lệ’, còn ‘mechanic’ có nghĩa là ‘cách thức mà một cái gì đó được thực hiện hoặc vận hành; thực tiễn hoặc chi tiết của một cái gì đó’ (the way in which something is done or operated; the practicalities or details of something – Từ điển Oxford). Như vậy, cụm từ “legal mechanics” có thể được hiểu là ‘sự vận hành/cách thức đúng Pháp/Luật’.
  • 23
    Nghi thức do Đức Phật chế định mà cô Tỳ Khưu Ni tân lập này goi là Nó, thì không chấp nhận được.
  • 24
    Bản tiếng Anh, ngài Bhikkhu Bodhi dùng từ “rigorous”. Đây là tính từ, được giải thích trong Từ điển Oxford có nghĩa là ‘cực kỳ kỹ lưỡng, đầy đủ, hoặc chính xác’ của một quy tắc, hệ thống, v.v. được áp dụng hoặc tuân thủ nghiêm ngặt’ (extremely thorough, exhaustive, or accurate of a rule, system, etc. strictly applied or adhered to)
  • 25
    S.ii, 226
  • 26
    DhpA.i, 7