Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Về việc xuất gia (Pabbajjā) của nữ giới

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương III.
Khôi Phục Tỳ Khưu Ni Theo Hệ Phái Nam Truyền

Trong Luật Tạng việc tiếp độ nữ giới xuất gia trong Giáo Pháp này, từ khi có Tỳ Khưu Ni thì được giao cho Tỳ Khưu Ni.

Tuy không có điều Luật nào cấm các Tỳ Khưu không được phép cho xuất gia Sa Di Ni; nhưng cũng không có điều nào cho phép vị Tỳ Khưu được phép cho xuất gia Sa Di Ni.
Trong kinh điển hay Luật Tạng cũng không thấy vị Trưởng lão nào cho xuất gia Sa Di Ni. Điều này có được là do:

a. Các vị Tỳ Khưu tôn kính lời dạy của Bậc Đạo Sư: “Không nên quy định điều không được quy định hoặc không nên huỷ bỏ điều đã được quy định. Nên thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định” (Luật Tỳ Khưu, điều ưng xả (nisaggiya, số 15).

b. Khi cho nữ giới xuất gia Sa Di Ni, phải dạy dỗ, chăm sóc theo phận sự là thầy. Ngoại giáo có cơ hội xuyên tạc, dân chúng sẽ phê phán chê bai cho đó là “vợ chồng”. Ngay cả việc Tỳ Khưu Ni sám hối lỗi với vị Tỳ Khưu ở trên đường đi, ngõ cụt, nơi giao lộ. Dân chúng cũng cho rằng: “Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Hồi hôm họ đã gây gỗ nên giờ xin lỗi” (Luật Tiểu Phẩm (cullavagga), chương Tỳ Khưu Ni).

Do việc này, Đức Thế Tôn dạy:

“Này các Tỳ Khưu, các Tỳ Khưu không nên ghi nhận tội cho các Tỳ Khưu Ni, vị nào ghi nhận thì phạm dukkaṭa (tác ác); Này các Tỳ Khưu, ta cho phép Tỳ Khưu Ni ghi nhận tội cho các Tỳ Khưu Ni.”

Tỳ Khưu Ni tuy được phép cho nữ giới xuất gia (pabbajjā) Sa Di Ni, nhưng cũng phải tuân thủ theo luật.

“Không được tiếp độ nữ nhân không được cha mẹ hay người chồng cho phép.” Đây là điều học ưng đối trị số 80 trong Phân tích giới Tỳ Khưu Ni.

Tỳ Khưu Ni Thullanandā đã tiếp độ cô Ni tập sự không được cha mẹ và người chồng cho phép. Cha mẹ và người chồng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Vì sao Ni sư Thullanandā lại tiếp độ cô Ni tu tập sự không được cha mẹ và chồng cho phép?”.

Nhân sự việc này, Đức Thế Tôn chế định học giới:

“Vị Tỳ Khưu Ni nào tiếp độ cô Ni tập sự không được cha mẹ hoặc người chồng cho phép, phạm pācittiya”.

Ngoài ra, tuy hội chúng Tỳ Khưu Ni được phép cho các cô Ni tập sự thọ giới tu lên bậc trên, nhưng không được sự chấp thuận từ các Tỳ Khưu phạm tội. Đây là điều học pācittiya số 8, trong Luật Phân tích giới Tỳ Khưu Ni.

Khi Đức Thế Tôn ngự trú nơi Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng những con sóc trong thành Rājagaha.

Vào lúc bấy giờ, Tỳ Khưu Ni Thullanandā (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp độ cô Ni tu tập sự” đã cho thỉnh mời các vị Tỳ Khưu Trưởng lão đến, sau khi nhìn thấy nhiều loại thực vật loại cứng loại mềm, lại giải tán các vị Tỳ Khưu Trưởng lão (nói rằng):

– Thưa các Ngài Đại Đức, tôi sẽ không tiếp độ cho cô Ni tập sự lúc này.

Rồi cho thỉnh mời Devadatta, Kokālika, Katamoratissaka con trai của Khandadevī và Samuddadatta rồi tiếp độ cô Ni tập sự (là cho tu lên bậc trên).

Các Tỳ Khưu Ni ít ham muốn… đã phàn nàn, phê phán.

– Vì sao Ni sư Thullanandā lại tiếp độ cô Ni tu tập sự với việc ban cho sự thoả thuận từ các vị (Tỳ Khưu) đang chịu hành phạt parivāsa (cấm túc).

(Tôn giả) Devadatta phạm Sanghādisesa (Tăng tàn) điều thứ 10 về việc “cố ý chia rẽ Tăng”.

Ba Tôn giả Kokālika, Katamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī và Samuddadatta phạm Saṅghādisesa điều thứ 11 về việc “ủng hộ kẻ chia rẽ Tăng chúng”; trong Luật Phân tích giới Tỳ Khưu.

Tỳ Khưu Ni Thullanandā thường giao tiếp thân hữu và ủng hộ nhóm Tỳ Khưu này.

Sự việc được trình lên Đức Thế Tôn. Nhân duyên sự này, Đức Thế Tôn chế định học giới.

“Vị Tỳ Khưu Ni nào tiếp độ cô Ni tu tập sự với việc ban cho sự thoả thuận từ các vị (Tỳ Khưu) đang chịu hình phạt parivāsa (cấm túc) thì phạm pācittiya”.

Lại nữa, vị Tỳ Khưu Ni sau khi tế độ cô Ni tu tập. Sự tu lên bậc trên phải tách ly hoặc tìm cách cho tách ly để người chồng không giữ lại. Nếu không tách ly hay tìm cách cho tách ly thì phạm pācittiya (điều 70).

Một điều đáng lưu ý mà bản dịch phẩm cũng thừa nhận ở trang 56: “Khi một nhóm Tỳ Khưu quyết định rằng sẽ truyền giới Tỳ Khưu Ni mà không có sự đồng ý của người lãnh đạo Tăng đoàn mà họ tuỳ thuộc vào hay không nhận được sự nhất trí của phần lớn các Tỳ Khưu huynh đệ, họ mạo hiểm tạo ra một sự chia rẽ trong Tăng đoàn. Trong lúc họ chắc chắn là không cố ý một cách độc ác tạo ra chia rẽ Tăng chúng, họ vẫn khiến cho sự chia đôi Tăng đoàn mà các quan điểm không thể dung hoà, trong vấn đề cực kỳ quan trọng là những người thuộc loại đặc biệt như vậy”.

Việc các vị Trưởng lão ủng hộ việc phục hồi Hội chúng Tỳ Khưu Ni Theravāda, có tạo ra sự chia rẽ Tăng chúng hay không? Việc này tôi không dám bình luận vì vượt ngoài sự hiểu biết của mình. Bản dịch phẩm có nêu: “Trong lúc họ chắc chắn là không cố ý một cách độc ác tạo ra sự chia rẽ Tăng chúng, nhưng họ vẫn khiến cho có sự chia đôi Tăng đoàn…”

Với những người có niềm tin nhân quả; khi gieo một nhân nào từ hành động hay lời nói hoặc ý tưởng sẽ nhận lại kết quả từ nhân đó. Cho dù là ý tốt nhưng hành động không tốt sẽ nhận lại kết quả không tốt từ hành động ấy.

Như Ngài Ānanda đã nỗ lực cho sự xuất gia của Phụ nữ trong Pháp Luật đã được Đức Thế Tôn công bố. Việc làm của Ngài Ānanda không có ác ý gây nhiễu trong tăng đoàn; sự xuất gia của nữ giới trong tăng đoàn tốt đẹp cũng có, nhiễu bại cũng có. Khi các vị kết tập bắt tội dukkaṭa (tác ác) vì việc ấy. Ngài Ānanda có trả lời rằng:

– Thưa các Ngài, (nghĩ rằng): Bà Mahāpajāpati Gotami là dì ruột của Đức Thế Tôn, là người chăm sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, bà đã cho Đức Thế Tôn bú sữa khi người mẹ ruột qua đời, nên tôi đã nỗ lực cho sự xuất gia của phụ nữ trong pháp và luật được đức Như Lai công bố. Tôi không thấy được tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các Đại đức, tôi xin sám hối tội dukkaṭa ấy. (Luật Tiểu Phẩm (cullavagga) chương XI. Liên quan năm trăm vị (pañcasatikakkhandabakaṃ).

Sự nhiễu hại do các Tỳ Khưu Ni gây ra

Sau đây là một vài sự nhiễu hại do các Tỳ Khưu Ni gây ra với Tăng đoàn:

Trong Luật Tiểu Phẩm (Cullavagga). Chương X. Tỳ Khưu Ni (bhikkhunīkhandhakaṃ), ghi nhận:

a. Vào lúc bấy giờ nhóm Tỳ Khưu Ni nhóm Lục sư, kẻ mí mắt, làm dấu ở trán, nhìn qua cửa sổ (xuống đường phố), đứng tựa cửa lớn (khoe phần thân trên), bảo nhảy múa, hỗ trợ gái điếm, lập quán bán rượu, lập tiệm bán thịt, trưng bày cửa hiệu, tiến hành việc cho vay lấy lãi, tiến hành việc thương mại, nuôi tôi trai, nuôi tớ gái, nuôi trai làm mướn, nuôi gái làm thuê, nuôi thú vật, buôn bán rau xanh, mang mảnh da mài dao cạo. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: … giống như những người nữ tại gia hưởng dục vậy?

Sự việc trình lên Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn chế định học giới: mỗi điều trên, mỗi điều là phạm vào dukkaṭa (tác ác).

b. Vào lúc bấy giờ các Tỳ Khưu Ni đình chỉ lễ Uposadha, đình chỉ lễ Pavāraṇā, ban hành mệnh lệnh, thiết lập quyền hạn, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở đối với các Tỳ Khưu… (như trên) …

Các vị trình lên Đức Thế Tôn… (như trên) …

– Này các Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni không nên đình chỉ lễ Uposadha của Tỳ Khưu, dầu đã bị đình chỉ cũng như không đình chỉ. Vị Ni đình chỉ phạm dukkaṭa (tác ác).

– Không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, dầu đã bị đình chỉ cũng như không bị đình chỉ. Vị Ni đình chỉ phạm dukkaṭa.

– Không nên ban hành mệnh lệnh, dẫu đã ban hành cũng như không ban hành. Vị Ni ban hành phạm tội dukkaṭa.

– Không nên thiết lập quyền hạn, dầu đã được thiết lập quyền hạn cũng như không được thiết lập quyền hạn. Vị Ni thiết lập quyền hạn phạm tội dukkaṭa.

– Không nên thỉnh ý (để buộc tội), dầu đã được thực hiện cũng như không được thực hiện. Vị Ni thực hiện phạm tội dukkaṭa (tác ác).

– Không nên quở trách, dầu đã được quở trách cũng như không quở trách. Vị Ni quở trách phạm tội dukkaṭa (tác ác).

c. Vào lúc bấy giờ, các Tỳ Khưu Ni nhóm Lục sư vén hở thân rồi chỉ cho các Tỳ Khưu thấy. Vén hở ngực rồi chỉ cho các Tỳ Khưu thấy, vén hở đùi rồi chỉ cho các Tỳ Khưu thấy, vén hở chỗ kín rồi chỉ cho các Tỳ Khưu thấy, trò chuyện với các Tỳ Khưu, giao lưu với các Tỳ Khưu, (nghĩ rằng): “Để các vị có thể chú ý đến chúng ta” … (như trên) các vị Tỳ Khưu đã trình việc này đến Đức Thế Tôn.

– Này các Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni không nên vén hở thân rồi chỉ cho các Tỳ Khưu thấy… Vị Ni nào giao lưu thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

– Này các Tỳ Khưu, Ta cho phép việc thực thi hành phạt đối với Tỳ Khưu Ni ấy. Các vị Tỳ Khưu nghĩ điều này: “Hành phạt gì nên được thực thi?”. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn

– Này các Tỳ Khưu, ta cho phép thực thi việc ngăn cấm (đi vào trú xứ của Tỳ Khưu). Khi việc ngăn cấm được thực thi, họ không chấp hành. Các vị Tỳ Khưu trình sự việc lên Đức Thế Tôn… (như trên) …

– Này các Tỳ Khưu, Ta cho phép đình chỉ việc giáo giới. (như vậy cho thấy “việc Tỳ Khưu Ni vượt qua Học giới, thì bị hành phạt tăng thêm”).

d. Trong Tạng Luật, bộ Luật Phân tích giới Tỳ Khưu (Bhikkhuvibhaṅga). Vii. Chương Ưng Xả (Nisagiya), điều học thứ tư:

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ nơi Đại tự Jetavana của ông Anāthapiṇḍika, gần thành Sāvatthi.

Vào lúc bấy giờ người vợ cũ của Đại đức Udāyi đã xuất gia trở thành Tỳ Khưu Ni. Tỳ Khưu Ni ấy thường xuyên đi đến gặp Đại đức Udāyi. Đại đức Udāyi cũng thường xuyên đến gặp Tỳ Khưu Ni ấy.

Khi ấy, vào buổi sáng, Đại đức Udāyi đã mặc y, cầm bình bát, đi đến gặp Tỳ Khưu Ni ấy, sau khi đi đến đã để lộ ra vật kín phía trước Tỳ Khưu Ni ấy, rồi ngồi xuống chỗ ngồi.

Tỳ Khưu Ni ấy cũng đã để lộ chỗ kín trước mặt Đại đức Udāyi rồi đã ngồi xuống chỗ ngồi. Khi ấy Đại đức Udāyi bị khởi dục nên đã suy tưởng đến vật kín của Tỳ Khưu Ni ấy. Tinh dịch đã xuất ra từ vật kín của vị ấy. Khi ấy, Đại đức Udāyi đã nói với Tỳ Khưu Ni ấy điều này:

– Này sư tỷ, hãy đi và đem lại nước. Tôi sẽ giặt y nội.

– Thưa Ngài, hãy trao lại. Chính tôi sẽ giặt.

Tỳ Khưu Ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các Tỳ Khưu Ni. Sự việc được trình lên Đức Thế Tôn. Do sự việc này, do duyên sự này, Đức Thế Tôn chế định học giới.

“Vị Tỳ Khưu nào bảo Tỳ Khưu Ni không phải là thân quyến giặt, hoặc bảo nhuộm, hoặc bảo đập giũ y dơ thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

e. Trong Tạng Luật bộ Phân tích giới Tỳ Khưu Ni (bhikkhunīvibhaṅga) IV. Chương Pācittiya (ưng đối trị). Điều học thứ sáu: Tỳ Khưu bị Tỳ Khưu Ni đánh:

Khi Đức Thế Tôn trú ngụ nơi Đại tự Jetavana của ông Anāthapiṇḍika, gần thành Sāvatthi.

Bấy giờ có quan đại thần Ārohanta đã xuất gia ở các Tỳ Khưu. Người vợ cũ của vị ấy cũng xuất gia ở nơi các Tỳ Khưu Ni.

Vào lúc bấy giờ, vị ấy nhận phần phân phát vật thực khi có sự hiện diện của Tỳ Khưu Ni ấy.

Trong lúc vị ấy đang thọ thực, vị Tỳ Khưu Ni ấy đã đứng gần với nước uống và quạt rồi nói chuyện thế tục là nói về chuyện đùa giỡn tại gia. Vị Tỳ Khưu đã xua đuổi Tỳ Khưu Ni ấy, nói rằng:

– Này sư tỷ, chớ làm như thế. Điều ấy không được phép.

– Trước đây ông đã làm tôi như vầy và như vầy. Bây giờ, chỉ chừng ấy ông lại không chịu.

Rồi đổ tô nước uống lên đầu và dùng quạt đánh. Sự việc được trình lên Đức Thế Tôn. Do duyên sự ấy Đức Thế Tôn chế định học giới: “Trong khi vị Tỳ Khưu đang thọ thực, vị Tỳ Khưu Ni nào đứng gần với nước uống hoặc với quạt thì phạm pācittiya (ưng đối trị)”.

f.“Mắng nhiếc hoặc nguyền rủa Tỳ Khưu”, điều học pācittiya (ưng đối trị) số 52:

Khi Đức Thế Tôn ngự tại thành Vesāli, Mahāvana (Đại Lâm) nơi giảng đường Kūṭāgāra.

Thầy Tế độ của Đại đức Upāli là Đại đức Kappitaka (theo Ngài Buddhaghosa: Ngài Kappitaka là một trong một ngàn vị Trưởng lão Uruvelā, Kassapa được đề cập trong Đại PhẩmMahāvagga), ngụ ở mộ địa.

Lúc bấy giờ vị Tỳ Khưu Ni trưởng thượng của các Tỳ Khưu Ni nhóm Lục sư qua đời. Các Tỳ Khưu Ni ấy đưa (thi thể) vị Tỳ Khưu Ni ấy đi thiêu, và đã làm bảo tháp không xa trú xá của Trưởng lão Kappitaka, rồi thường đi đến bảo tháp ấy than khóc.

Ngài Kappitaka bị quấy rầy bởi tiếng than khóc ấy, nên phá vỡ bảo tháp rồi phân tán.

Các Tỳ Khưu Ni ấy hội nhau lại nói rằng:

– Tỳ Khưu Kappitaka này đã phá vỡ bảo tháp của ni sư chúng ta, chúng ta hãy giết lão đi.

Có vị Tỳ Khưu Ni biết việc này, đã thuật lại cho Đại đức Upāli biết. Đại đức Upāli đã kể lại cho Ngài Kappitaka.

Ngài Kappitaka đã rời khỏi trú xá rồi ẩn núp chờ đợi.

Nhóm Tỳ Khưu Ni Lục sư đi đến trú xá của Trưởng lão Kappitaka, đã làm trú xá của Trưởng lão bị bao trùm bởi những hòn đá và đất cục rồi bỏ đi (nghĩ rằng) Kappitaka đã chết.

Trải qua đêm ấy, vào buổi sáng Đại đức Kappitaka đã mặc y, tay cầm y bát đi vào thành Vesāli để khất thực.

Các Tỳ Khưu Ni nhóm Lục sư đã nhìn thấy Ngài Kappitaka đang đi khất thực, đã nói rằng:

– Kappitaka này còn sống, vậy ai đã tiết lộ kế hoạch của chúng ta?

Các Tỳ Khưu Ni nhóm Lục sư đã nghe được rằng: “Nghe nói kế hoạch của chúng ta đã bị tiết lộ bởi Ngài Đại đức Upāli”.

Các vị ni ấy đã mắng nhiếc ngài Đại đức Upāli rằng:

– Tại sao gã thợ cạo lau chùi bụi bặm và dòng giõi hạ tiện này lại tiết lộ kế hoạch của chúng tôi?

Việc này được trình lên Đức Thế Tôn, nhân đó Đức Thế Tôn chế định điều học: “Vị Tỳ Khưu nào mắng nhiếc hoặc nguyền rủa Tỳ Khưu, phạm tội ưng đối trị (pācittiya).”

Ngoài ra còn nhiều điều nhiễu hại khác do các Tỳ Khưu Ni gây ra cho các Tỳ Khưu được ghi nhận trong chương Tỳ Khưu Ni.