Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Xác định hệ tư tưởng

Nữ Giới Và Sự Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Theravāda

Biên soạn
Tỳ Khưu Chánh Minh

Chương III. Khôi Phục Tỳ Khưu Ni Theo Hệ Phái Nam Truyền

Khi đề cập đến sự khôi phục Tỳ Khưu Ni theo Hệ phái Nam truyền, ở đây chỉ lưu ý đến sự hình thành Tỳ Khưu Ni theo nghi thức Hệ phái Nam truyền, không đề cập Tỳ Khưu Ni Hệ phái Bắc truyền hay Tỳ Khưu Ni Hệ phái Khất sĩ. Vì sao?

Vì mỗi tông phái có hệ thống biệt truyền riêng, có nghi thức riêng: Cần phải tôn trọng những nghi thức biệt truyền của các Hệ phái ấy.

Ví như mỗi đất nước có hiến pháp, luật pháp riêng, không nên can thiệp vào hiến pháp, luật pháp nước khác.

Cũng vậy, Tỳ Khưu Ni Hệ phái Bắc truyền hay Tỳ Khưu Ni Hệ phái Khất sĩ có nghi thức thọ giới riêng; tuy giới luật Tỳ Khưu Ni của ba Hệ phái có những nét tương đồng, cũng có những nét dị biệt.

Do vậy, không nên đồng hoá là một.

Mặt khác, cũng không nên cho rằng: “Nghi thức được thực hiện về thọ giới Tỳ Khưu Ni của các tông – Hệ phái khác, được áp dụng vào nghi thức thọ giới Tỳ Khưu Ni của Hệ phái Theravāda.

Người viết có đọc tập khảo luận “Sự phục hồi của hội chúng Tỳ Khưu Ni trong truyền thống Nguyên thuỷ” nguyên tác của Ngài Trưởng lão Bodhi bằng Anh ngữ, được Tỳ Khưu Ni Dhamma Nandā (Pháp Hỷ- Cô Nguyên Hương) dịch sang Việt ngữ.

Kính thưa quý Ngài Thạc đức Cao Tăng, uyên thâm Phật pháp, người viết không có ý niệm tranh luận, vì hiểu rằng: “Trong cuộc tranh luận này, ta sẽ chết”1Dhp. 6; người viết chỉ tỏ bày ý kiến của mình. Trong quá trình diễn đạt, người viết cố gắng tránh né sự xúc phạm đến các Ngài, nếu có sơ xuất, vô ý xúc phạm, xin các Ngài từ bi thứ lỗi và xin các Ngài chỉ dạy thêm.

Xác định hệ tư tưởng

Từ trước cho đến nay, Hệ phái Nam tông có truyền thống gìn giữ Pháp Luật của Đức Thế Tôn được nguyên vẹn, do vậy Hệ phái Nam tông còn được gọi là “bảo thủ”; những tư tưởng nới rộng giới luật, canh tân giới luật được xem là “tư tưởng phát triển” để thích nghi với tình hình hiện tại.

Hai hệ thống tư tưởng này, khó tìm được tiếng nói chung; tuy các tông phái, Hệ phái đều chấp nhận “Giới luật là nền tảng của Giáo Pháp”; nhưng sự thực hiện lại có những quan điểm khác nhau. Theo Tạng Luật, bộ Tiểu Phẩm II (Cullavagga II), chương Liên Quan Bảy Trăm Vị (Satta satikakkhandhakaṃ).

Sau khi Đức Thế Tôn viên tịch được một trăm năm. Các vị Tỳ Khưu ở Vesāli thuộc dòng dõi Vajji đã nới rộng mười học giới, mười điều này được xem là trở thành phi Luật.

Chính mười điều được nới rộng giới luật này trở thành Mười Điều Phi Luật, dẫn đến cuộc kết tập Phật ngôn lần thứ hai, đại hội gồm bảy trăm đại biểu. Mười điều phi Luật ấy nhìn sơ qua dường như chỉ là nới rộng điều học được Đức Thế Tôn ban hành, sự nới rộng này dường như để thích nghi với tình hình hiện tại, nhưng lại trở thành “mười sự việc không được phép”. Mười điều không được phép ấy, có điều vi phạm vào ưng đối trị, có điều chỉ phạm vào dukkaṭa (tác ác).

Khi nêu ra điều này, để thấy rằng: “Các vị Trưởng lão tiền bối thông luật” đã gìn giữ Giới luật thật nghiêm chỉnh, không hề vi phạm; cho dù đó là lỗi dukkaṭa, còn nói gì đến pācittiya (ưng đối trị). Tinh thần nghiêm trì Giới luật của các Trưởng lão tiền bối là như thế, và các Ngài được tôn xưng là bậc cổ đức (poranā).

Việc muốn vượt qua hàng rào Giới luật không phải chỉ mới có sau này, ngay cả khi Đức Phật còn tại tiền cũng có các vị Tỳ Khưu như: Tôn giả Devadatta, Tôn giả Sunakkhatta, Tôn giả Ariṭṭha, muốn vượt qua Pháp Luật này, nhưng với uy lực của Đấng Chánh Giác, Đức Thế Tôn đã chấn chỉnh và đưa vào quỹ đạo Pháp Luật của Ngài.

Ngay cả vị Tỳ Khưu già Subhadda, khi vừa hay tin Đức Thế Tôn viên tịch đã phát biểu:

“Thôi các hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Chúng ta đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Đại Sa môn ấy, chúng ta đã bị phiền nhiễu quấy rối với những lời: “Làm như thế này không hợp với các ngươi (“idaṃ vo nakappati”). Làm như thế này hợp với các ngươi (idaṃ vo kappati). Nay những gì chúng ta muốn, chúng ta làm (idānipana mayaṃ yaṃ icchissāma taṃ karissāma), những gì chúng ta không muốn, chúng ta không làm (yaṃ na icchissāma taṃ na karissāmā’ti)” (Trường Bộ Kinh, bài kinh DN16).

Ngài Mahā Kassapa đã nghe được những lời nói, để chấn chỉnh lời nói phi pháp phi luật của vị Tỳ khuu Subhadda lớn tuổi này, cuộc kết tập Phật ngôn lần thứ I hình thành vào ngày thứ hai của tháng tư sau khi Đức Thế Tôn viên tịch (là vào ngày 16- 7 Âl tính theo lịch Việt Nam).

Với một hội nghị gồm năm trăm vị Trưởng lão A La Hán. Các Ngài Trưởng lão gìn giữ Pháp Luật như thế ấy. Như kinh văn thường ghi nhận.

“Vị Tỳ Khưu trong Pháp Luật này; sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu hành trong giới pháp.”2Trường Bộ Kinh, bài kinh số 2 (DN2)

Tôn giả Devadatta

Theo Tạng Luật, bộ Tiểu Phẩm II (Cullavagga II), chương VII. Chia rẽ hội chúng (Saṅghabhedakkhandhakaṃ):

Để thực hiện sự chia rẽ Tăng chúng, Tôn giả Devadatta cùng ba vị Tôn giả là: Tôn giả Kokālika, Tôn giả Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍavevī và Tôn giả Samuddadatta, đi đến xin Đức Thế Tôn năm điều:

1.  “Vị Tỳ Khưu nên sống ở rừng đến trọn đời”.
1. Bhikkhu yāvajīvaṃ araññakā assu

2. “Vị Tỳ Khưu nên đi khất thực trọn đời”.
2. Bhikkhu yāvajīvaṃ piṇḍapātikā assu

3.  “Vị Tỳ Khưu nên mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ đến trọn đời”.
3. Bhikkhu yāvajīvaṃ paṃsukūlikā assu

4. “Tỳ Khưu nên ở cội cây suốt đời”.
4. Bhikkhu yāvajīvaṃ rukkhamūlikā assu

5. “Vị Tỳ Khưu không được dùng thịt cá đến trọn đời”.
5. Bhikkhu yāvajīvaṃ macchamaṃsaṃ na khādeyyuṃ

Những điều xin của Tôn giả Devadatta chỉ là cái cớ để ông cùng các Tôn giả khác tách rời Tăng đoàn, thành lập một bộ phái riêng.
Những điều xin của Tôn giả Devadatta thoạt nhìn thấy rất thánh thiện, nhưng ngầm muốn phá vỡ những học giới do Đức Thế Tôn ban hành đồng thời ẩn tàng ý “tách ra riêng”. Đức Thế Tôn đã trả lời rằng:

1. Này Devadatta thôi đi. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị sống ở rừng, vị nào muốn thì hãy cư ngụ ở trong làng.

2. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị đi khất thực, vị nào muốn thì hãy hoan hỷ việc thỉnh mời.

3. Vị nào muốn thì hãy là vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào muốn thì hãy hoan hỷ mặc y của gia chủ.

4. Này Devadatta, ta cho phép chỗ trú ngụ là gốc cây trong tám tháng.

5. Cá và thịt là thanh tịnh với ba điều kiện: “Không thấy, không nghe, không nghi ngờ”.

Và như thế, cho thấy rằng Giới Luật của Đức Thế Tôn ban hành có tính trung dung, rất nhiều điều học trong giới Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni đã nêu ra tính chất này. Giới luật của Đức Thế Tôn đã ban hành không quá căng thẳng cũng không rộng mở, thể hiện con đường giữa. (Bu Ss 10)

Tôn giả Sunakkhatta

Là một vương tử người Licchavī ở thành Vesāli. Một thời vị này xuất gia, là thị giả của Đức Thế Tôn. Về sau, Tôn giả Sunakkhatta theo ngoại giáo phỉ báng Đức Thế Tôn. (DN24)

Tôn giả Ariṭṭha

Tôn giả Arriṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng. Vị ấy xuất gia trong giáo đoàn, khởi lên một ác tà kiến rằng:

“Theo như ta hiểu về pháp đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng, thì những pháp chướng ngại được Đức Thế Tôn đề cập, không có khả năng đem lại chướng ngại cho người thực hành”.

Tuy được các vị Tỳ Khưu khuyên giải, bị Đức Thế Tôn khiển trách, nhưng Tỳ Khưu Ariṭṭha vẫn ngoan cố không từ bỏ ác tà kiến ấy.

Đức Thế Tôn dạy các Tỳ Khưu thi hành án treo đối với Tỳ Khưu Ariṭṭha về việc không từ bỏ tà kiến ác (là tạm thời bị thâu y) và chỉ được phục hồi là vị Tỳ Khưu khi Tôn giả Ariṭṭha từ bỏ ác tà kiến (ông cho rằng: “dục tình không là chướng ngại cho vị thực hành”. Nghĩa là Tôn giả Ariṭṭha phản bác điều học pārājika (trục xuất) thứ I.
3Vin.ii, 25-8

Tôn giả Kassapagotta

Trong Tăng Chi Kinh, Chương Ba Pháp, phẩm Sa Môn, kinh Pankadhā4A.i, 236:

Ngoài ra, trong thời Đức Phật còn có Tôn giả Kassapagotta, Tôn giả Kassapagotta là vị Tỳ Khưu ở thị trấn Paṅdhakā trong xứ Kosala.

Đức Thế Tôn khi du hành đến thị trấn Paṅdhakā. Tại đấy, Đức Thế Tôn thuyết lên pháp thoại có liên hệ đến học giới, khích lệ làm hoan hỷ đến các Tỳ Khưu. Tôn giả Kassapagotta lấy làm bất nhẫn, lấy làm bất mãn, nghĩ rằng: “Vị Sa môn này tăn măn, tỉ mỉ” (adhisallikhat’evāyaṃ).

Sau đó, Tôn giả Kassapagotta ân hận, ông đến thành Rajagaha, núi Gijjhakūṭa (Kên Kên), đảnh lễ Đức Thế Tôn và xin sám hối.

Đức Thế Tôn chấp nhận sự sám hối lỗi của Tôn giả Kassapagotta như là một cách ưng phát lộ.

Đức Thế Tôn tán thán vị Tỳ Khưu ưa thích học pháp.

Những điều nêu trên cho thấy rằng: Sự mong muốn nới rộng hay phá vỡ hàng rào giới luật của Đức Thế Tôn chế định cho các đệ tử, đã có ngay trong thời Đức Thế Tôn còn tại tiền, nhưng với uy lực của Đấng Chánh Giác, Ngài đã yên lặng. Đồng thời những tư tưởng đi ngược với Pháp của Đức Thế Tôn dạy, cũng được chấn chỉnh.

Và các vị Trưởng lão Hệ phái Nam tông là bậc Trì Luật, nghiêm túc trong việc gìn giữ Luật, không vượt ra ngoài khuôn khổ Luật là điều không có gì đáng ngạc nhiên và phàn nàn.


Ghi chú

  • 1
    Dhp. 6
  • 2
    Trường Bộ Kinh, bài kinh số 2
  • 3
    Vin.ii, 25-8
  • 4
    A.i, 236