Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Điều Kiện Của Bố Thí Sự (Danā Kammam)

Bố Thí Độ
Dāna Pāramitā

Soạn giả
Tỳ khưu Chánh Minh

Được gọi là bố thí do đủ bốn điều kiện:

– Có người cho.

– Có ý (cetanā) đem cho.

– Vật đem cho.

– Người thọ nhận.

1. Có ý (hay tác ý) đem cho

Có ba loại tác ý đem cho:

– Có ý (dứt bỏ) trước khi cho (pubba cetanā).

– Có ý (dứt bỏ) trong khi cho.

– Có ý (dứt bỏ) sau khi cho.

Có ý đem cho được xem là thành phần chủ yếu của bố thí, Pāli có dẫn:

Dīyāti anenāti dānaṃ = dānacetanaṃ: điều khiển sự đem cho, gọi là ” có ý bố thí”.

Ở đây, hành động quyết định đem cho là do “có ý ( cetanā)”, không thể có sự bố thí mà không có sự “có ý” đem cho. Và hành động đem cho chỉ xẩy ra khi nào có cetanā (có ý).

a- Có ý trước khi cho: ý khởi sanh vào lúc dự định đem cho, gọi là “có ý trước khi cho”.

Trong giai đoạn trước khi cho này, cần nhận định rằng:

– Khi có sẵn vật đem cho, nhưng chưa có người thọ nhận, đó là “có ý trước khi cho”, như Bồ tát Vessantara1Đại trưởng lão Hộ TôngThập độ, bổn sanh Bồ tát Vessantara. tuyên bố “ai cần vật gì ta sẽ cho vật ấy”. Sau đó có 8 vị Bàlamôn đến xin con voi hạnh phúc (maṅgalahatthi), Bồ tát cho voi ấy ngay. Loại “có ý” này được xem là “có ý trước khi cho”.

– Nếu như không có sẵn vật cho, tác ý này chỉ là “ý thiện”, không thể gọi là “có ý bố thí”.

Như trường hợp nàng Suppiyā2Luật Đại phẩm (mahāvagga)- Chương dược phẩm, Tụng phẩm 2, khi đi đến Kỳ viên tịnh xá, thấy vị Tỳ khưu đang bị bịnh, bạch hỏi rằng: “Bạch Ngài, Ngài cần dùng loại thuốc chi để trị bịnh”.

– Này cô, tôi cần nước thịt để trị bịnh. Vị Tỳ khưu ấy đáp lời nàng Suppiyā.

­- Bạch Ngài, vào ngày mai, tôi sẽ dâng nước thịt đến Ngài.

Loại “có ý cho” của nàng Suppiyā trong thời điểm ấy, chỉ là “ý thiện”.

Vào hôm sau, vì không tìm được thịt, nàng cắt thịt đùi của mình, nấu thành bát canh thịt dâng đến vị Tỳ khưu. Khi nàng cắt thịt đùi của mình để bố thí, khi ấy loại tác ý này, gọi là “có ý trước khi cho”.

b- Có ý trong khi cho (còn gọi là muñca cetanā).

Chữ muñca nghĩa là sự buông bỏ, dứt bỏ. Vì đi chung với hành động đem cho, nên có ý trong khi cho chính thức là bố thí sự.

Hai loại “có ý” này đều được xem là bố thí khi đã có vật thí.

c- Có ý sau khi cho:

Là sau khi đã cho rồi, tâm còn nghĩ đến “người nhận, vật thí” thì hành động này chỉ được xem là hành động bố thí (dānakammaṃ).

Còn như “sau khi cho” chĩ nghĩ đến hành động tốt đẹp của thiện sự, không nghĩ đến “người nhận cùng vật thí”, khi ấy bố thí sự trở thành dứt bỏ.

Đức Phật có dạy:

Idha modati pecca modati
Katapuñño ubhayattha modati.
So modati so pamodati.
Disvā kammavisuddhamattano.

“Ở đây hoan hỷ, sau đây hoan hỷ. Trong cả hai trạng thái người hành thiện đều hoan hỷ. Hoan hỷ vô cùng hoan hỷ, vì nhận thức tánh cách trong sạch của chính hành động mình.”3Dhp, câu số 16 – Đại trưởng lão Nārada – ông Phạm Kim Khánh dịch.

2. Vật thí

Những vật đem cho cũng là một thành phần của thí sự như Pāli giải:

Dīyāti dānaṃ = dānavatthuṃ: vật đem cho, gọi là vật thí.

Trong Kinh tạng có đề cập đến: tâm thí và vật thí.

Có câu hỏi rằng: “vì sao vật thí cũng được xem là thí sự, trong khi điều quan trọng là tâm thí? Vì chỉ có tâm thí mới có khả năng tạo ra quả của bố thí, còn vật thí thì không có khả năng này?”

Về điểm này, như đã giải thích “được gọi là thí sự, khi có sẵn vật thích hợp đem cho”. Nếu không có vật thí thì không thành thí sự và loại tâm tốt đẹp ấy chỉ có thể gọi là tâm thiện, không thể gọi là tâm thí được.

Do đó, vật thí cũng là một yếu tố quan trọng trong thí sự.

Tác năng của vật thí có khả năng tạo ra quả của thí sự không?. Vật thí tuy không có khả năng tạo quả trực tiếp, nhưng gián tiếp sản sinh quả lợi ích tương ứng với vật thí. Như Hoàng hậu Anojā có màu da xinh đẹp như hoa anojā, vì trong quá khứ cúng dường hoa anojā đến bảo tháp với ước nguyện có được màu da xinh đẹp như hoa anojā.

Vua Asoka (Adục) có màu da sần sùi, xấu xí là do trong thời Đức Phật, cúng dường cái bánh bằng cát đến Đức Phât.

Đức Phật có dạy:

“Người cho vật hài lòng, được vật hài lòng.
Người cho vật quý, được vật quý.
Người cho vật báu, được vật báu.
Người cho trú xứ tốt, đi đến nơi quý trọng.”4A.ii, chương năm phápphẩm vua Munda.
“Manāpadāyī labhate manāpaṃ.
Aggassa dātā labhate punaggaṃ.
Varassa dātā varalābhī ca hoti.
Seṭṭhandado seṭṭhamupeti ṭhānaṃ.

Lại nữa, vị Alahán sau khi xả thiền diệt (nirodha samāthi), tuy các Ngài có tâm tế độ người nghèo khổ, nhưng trước đó Ngài quán xét “người này có tịnh tín với ta không?, có dâng đến ta vật chi chăng?”, khi thấy rõ có tâm thí lẫn vật thí, Ngài ngự đi tế độ người có duyên lành ấy.

Các Giáo thọ sư có cho ví dụ như sau:

Khi chúng ta nói “cơm được nấu chín nhờ có lửa”, nhưng không có củi thì không có lửa. Cũng vậy, thí sự ( cơm chín) hình thành do có tâm thí (lửa), nhưng không có vật thí (củi) thì tâm thiện này không trở thành tâm thí.

Vật thí có vai trò quan trọng trong thí sự (dānakamma) như thế, nên Đức Phật có dạy: có năm loại vật thí khi đem cho không có phước, đó là:

– Cho rượu (majjadānaṃ).

– Cho tiếng hát (sammajjadānaṃ). (Loại âm thanh quyến rủ tâm người nghe rơi vào tham ái, dục lạc).

– Cho nữ nhân (itthīdānaṃ) làm vợ người nam (ám chỉ bố thí tình dục).

– Cho bò cái đến bò đực (usabhadānaṃ) (ám chỉ sự phối giống).

– Cho hình tượng (lõa thể) (cittakammadānam), ám chỉ những tranh, tượng có tính cách khiêu khích tình dục.

Phân loại vật thí.

Các bài kinh trong bộ Suttanta (Kinh tập) có nêu ra 10 loại vật thí là:

– Cơm (anna), nước (pāna), y phục (vattha), xe (yāna), vòng hoa (mālā), chất thơm (gandha), chất xoa bóp (vilepana), giường (seyyā), chỗ trú ngụ (vasatha) và ánh sáng (dīpa).

Trong tạng Luật thì nêu ra bốn loại vật thí là: vật thực, y phục, chỗ trú và thuốc trị bịnh.

Nên hiểu rằng: bốn loại vật thí này, Đức Phật ám chỉ đến sự thọ dụng của chư Tỳ khưu, tức là bốn vật thí cần yếu cho đời sống Sa môn.

Còn 10 loại vật thí trong Tạng Kinh dùng cho mọi đối tượng thọ nhận, ngoài ra còn những vật thí khác như giày, dép, dù…

Trong tạng Luật, phẩm giày, dép có nêu lên hai loại vật thí này. Trong Bổn sanh, Bồ tát Saṅkha dâng đến Đức Phật Độc giác dù, giày…

Trong Tạng Luận (Abhidhamma), không đề cập đến vật thí chế định, chỉ đề cập đến vật thí theo cái nhìn của paramattha (thực tính pháp) là: sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp.

3. Người nhận

Đức Phật nêu ra có 14 đối tượng thọ thí5M.iii, Dakkhiṇavibhaṅgasutta (Kinh Cúng dường phân biệt).. Và tùy theo phẩm hạnh của đối tượng thọ thí mà phước báu của thí sự được nâng cấp. Như vậy đối tượng thọ thí được phân ra hai loại: Cá nhân và tập thể.

Trong cách thức cúng dường (hay bố thí) đến tập thể Tăng (gọi là trai tăng), có nêu ra bảy cách tập thể thí (ở đây là hội chúng Tăng) như sau:

“Này Ānanda, có 7 loại cúng dường cho Tăng chúng.

1. Bố thí cho cả hai Tăng chúng (Tỳ khưu và Tỳ khưu ni) với Đức Phật là vị lãnh đạo.

2. Bố thí cho cả hai Tăng chúng, sau khi Đức Phật viên tịch (parinibbāna).

3. Bố thí cho chúng Tỳ khưu Tăng.

4. Bố thí cho chúng Tỳ khưu Ni.

5. Bố thí và nói rằng: “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỳ khưu và Tỳ khưu Ni như vầy”.

6. Bố thí và nói rằng; “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỳ khưu như vầy.

7. Bố thí và nói rằng: “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỳ khưu Ni như vầy.

Bản sớ giải có giải thích: đối với những vùng có ít chư Tăng hay chư ni, chỉ cần bốn vị Tỳ khưu hay bốn vị Tỳ khưu ni cũng được gọi là Tăng thí (saṅghadāna). Vì sao? Vì rằng: bốn vị ấy biểu tượng cho bốn quả Sa môn là: –

– Sa môn bất động (samaṇamacala).

– Sa môn sen đỏ (samaṇpaduma).

– Sa môn sen trắng (samaṇapundarīko).

– Sa môn tinh luyện (samaṇasukhumālo).

Đối với trú xứ có nhiều chư Tăng, chư Ni thì số lượng thọ thí phải là tám vị, tượng trưng cho bốn đạo và bốn quả Sa môn.

Và với lời “mong chư Tăng chỉ định cho tôi một số Tăng” thì dù xin một vị, nhưng không nêu tên cũng gọi là Tăng thí. Vì rằng khả năng của gia chủ chỉ có thể cúng dường đến một vị mà thôi.

Bản Sớ giải ghi rằng: Người có tâm cúng dường, đi đến tự viện thỉnh cầu vị Trưởng lão trụ trì trong tự viện rằng:

– Bạch Ngài, vào ngày mai con xin thỉnh một vị Sa môn, đến thọ thực tại nhà của con.

Khi vị Trưởng lão đã nhận lời, ngày hôm sau bất cứ vị Sa môn nào đến nhà thọ thực (cho dù đó là Sa di), thí sự này cũng được xem là Tăng thí (hay tập thể thí).

Có câu chuyện như sau:

Có một cận sự nam sau khi xây dựng một tự viện cúng dường đến tang chúng, có lần ông đến tự viện xin thỉnh một vị Sư về nhà làm phước vào ngày hôm sau.

Hôm sau, vị Trưởng lão quản tăng cho vị sư ác giới đến thọ thực tại nhà cận sự nam, vì đến phiên vị ấy nhận phiếu thực.

Tuy biết rõ sở hành của vị sa môn này, nhưng vị cận sự nam vẫn cung kính đảnh lễ, rữa chân vị ấy, dùng dầu xoa bóp chân vị ấy, xong rồi cung thỉnh vị sư ngồi vào chỗ soạn sẵn, tự tay cúng dường vật thực rất kỉnh trọng.

Thấy vị cận sự nam này hoan hỷ, tịnh tín với mình như thế, vào buổi chiều vị sư ấy đến nhà cận sự nam, nói rằng: – Này cận sự nam, tôi cần mượn cái cuốc để làm cỏ.

– Này sư, hãy lấy đi.

Cận sự nam dùng chân hất cái cuốc sang vị sư. Thấy được việc làm vào ban sáng lẫn buổi chiều của cận sự nam, những người chung quanh hỏi rằng:

– Này ông, vì sao ban sáng ông cung kỉnh vị sư ấy, bây giờ lại có cử chỉ khinh bạc như thế.

– Thưa các ông, ban sáng vị ấy đại diện cho chư Tăng đến, tôi cung kỉnh là cung kỉnh chư Tăng. Bây giờ vị ấy không phải là đại diện chư Tăng, là vị sa môn không giới hạnh, nên tôi không thể cung kỉnh như ban sáng.

Câu chuyện này cho thấy thí sự của cận sự nam này: vừa là tập thể thí vừa là bố thí dứt bỏ, vì không chọn đối tượng cá nhân nào cả.

Đối tượng cung kỉnh của cận sự nam là chư Tăng, bất kỳ vị sư nào đến thọ vật thí là do Tăng cử đến, ví như bất kỳ thị giả nà0 của Đức vua mang chiếu lịnh đến tuyên đọc, các quan đại thần cũng phải quỳ xuống đảnh lễ, không phải đảnh lễ thị giả mà đảnh lễ vương lịnh của Đức vua.

Câu chuyện tiền thân Sa di Paṇḍita6DhpA, câu kệ số 8o. minh họa rõ về Tăng thí một vị này.

Do vậy, người phật tử khi bố thí, cho dù thỉnh Đại chúng tăng, nhưng tâm kỳ vọng một vị đại Trưởng lão nào đó đến dự, hoặc thấy trong nhóm Tăng có vị sư không giới hạnh thì không vui thíc, khi ấy tập thể thí trở thành cá nhân thí.

Có ý kiến cho rằng: “Sau khi Đức Phật đã viên tịch (parinibbāna), cúng dường Tăng thí có Đức Phật đứng đầu không thể thực hiện được”.

Nên trả lời rằng : “Tăng thí có Đức Phật là vị thượng thủ vẫn thực hiện được. Nếu thí chủ có cung thỉnh Xá lợi Phật (sārīrika dhātu) đến ngự, xem như thí sự có Đức Thế Tôn dự”.


Ghi chú:

  • 1
    Đại trưởng lão Hộ Tông – Thập độ, bổn sanh Bồ tát Vessantara.
  • 2
    Luật Đại phẩm (mahāvagga)- Chương dược phẩm, Tụng phẩm 2
  • 3
    Dhp, câu số 16 – Đại trưởng lão Nārada – ông Phạm Kim Khánh dịch.
  • 4
    A.ii, chương năm pháp – phẩm vua Munda.
  • 5
    M.iii, Dakkhiṇavibhaṅgasutta (Kinh Cúng dường phân biệt).
  • 6
    DhpA, câu kệ số 8o.
Trang chủ » Sưu Tập Pháp » Tỳ Khưu Chánh Minh » Bố Thí Độ » Điều Kiện Của Bố Thí Sự (Danā Kammam)