Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn,
bậc A-la-hán cao thượng, bậc Toàn Tri Toàn Giác

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Chi Tiết Về Chư thiên Và Các Cõi Trời

GIẢI VỀ CÕI TRỜI
(SAGGA KATHĀ)

TỲ KHƯU GIỚI NGHIÊM
THITASĪLO

Chi Tiết Về Chư thiên Và Các Cõi Trời

I- Ba hạng chư thiên và trú xứ, cảnh giới

Theo ý nghĩa đã trích dẫn và giảng giải chúng ta vừa đi qua thì chư thiên, devā, devatā sẽ được phân chia thành 3 hạng sau đây:

1- Samati Devatā

Chư thiên theo kiểu lạm xưng, tự tôn xưng như các đức vua xưa nay, là Thiên Tử tức con trời. Tuy nhiên, do phước báu quá khứ, được sanh làm vua, thì sự thụ hưởng ngũ dục của họ là đệ nhất ở thế gian, cũng được xem là ông trời nho nhỏ rồi. Và đời sống phú túc, thịnh mãn các nhu cầu vật chất của hoàng hậu, vương phi, hoàng thân, thái tưt, hoàng tử, công chúa…cũng tạm coi như Cõi Trời vậy. Họ ở Cõi Người, cảnh hữu phúc Dục giới.

2- Upatti Devatā

Chư thiên hóa sanh trong 26 tầng trời, gồm đầy đủ Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Chư thiên Dục giới thì ở 6 cảnh giới Dục giới tương ứng. Tuy nhiên, có hạng chư thiên bậc thấp thuộc “cư dân, binh lính” của Tứ đại thiên vương như chư thiên ở núi (Sơn thần), chư thiên ở cây cối (Thọ thần), chư thiên ở sông (Giang thần), chư thiên ở biển (Hải thần), chư thiên ngự đâu đó trên địa cầu (Địa tiên)…Ngoài ra, còn có chư thiên ở vườn, ở nhà, chùa tháp, cốc liêu, hang động, suối khe…nữa họ đều ở gần gũi với con người.

3- Visuddhi devatā

Thanh Tịnh Thiên nói đến các bậc lậu tận, đã chấm dứt phiền não đấy là chư Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác, Phật Thanh Văn Giác. Trú xứ của các ngài lúc còn thân xác hữu vi bao giờ cũng ở Cõi Người. Có trường hợp các vị A na hàm đắc định tứ thiền thì trú xứ tại Ngũ Tịnh Cư rồi Niết bàn luôn ở đấy.

II- Giải thích 26 tầng trời

Trong Sāleyyaka sutta, đức Thế Tôn có thuyết về 26 tầng trời như sau:

1- Cātummahārājikā: Tứ đại thiên vương

2- Tāvatiṃsa: Đao Lợi thiên

3- Yāmā: Dạ Ma thiên

4- Tusita: Đẩu suất đà thiên

5- Nimmāmuratī: Hóa lạc thiên

6- Paranimmitavasavatī: Tha Hóa Tự Tại thiên

Trên đây là 6 Cõi Trời Dục giới.

7- Brāhma parisajjā: Phạm chúng thiên

8- Brāhma purohita: Phạm phụ thiên

9- Mahābrāhma: Đại phạm thiên

Là ba cảnh giới tương ưng Sơ thiền

10- Parittābhā: Thiểu quang thiên

11- Appamāṇābhā: Vô lượng quang thiên

12- Abhassara: Quang âm thiên

Là ba cảnh giới tương ưng Nhị thiền.

13- Parittā subhā: Thiểu tịnh thiên

14- Appamāṇa subhā: Vô lượng tịnh thiên

15- Subhā kiṇṇā: Biến tịnh thiên

Là ba cảnh giới tương ưng Tam thiền

16- Asaññā: Vô tưởng thiên

17- Vehapphalā: Quảng quả thiên

18- Suddhāvāsā: Tịnh cư thiên

19- Avihā: Vô phiền thiên

20- Atappā: Vô nhiệt thiên

21- Sudassa: Thiện kiến thiên

22- Sudassī: Thiện hiện thiên

23- Akaṇiṭṭhā: Sắc cứu cánh thiên

Tịnh cư thiên gồm 5 cảnh trời là nơi chốn mà các vị thánh Bất Lai có định tứ thiền vững chắc thường hóa sanh đến kinh gọi là Ngũ tịnh cư thiên (Sẽ giải thích thêm ở phần sau)

23- Ākāsānañcāyatana: Không vô biên xứ thiên

24- Viññāṇanañcāyatana: Thức vô biên xứ thiên

25- Ākiñcaññāyatana: Vô sở hữu xứ thiên

26- Navasaññānāsaññāyatana: Phi tưởng, phi phi tưởng xứ thiên.

Giải tóm tắt về 26 cảnh trời nêu trên:

* Dục Giới

1- Tứ đại thiên vương

Do đức Phật thuyết như vầy:

“Cātunnaṃ rahārājānaṃñivāsanaṭṭhāna bhūta catum mahā rajo bhavāti”.

Sở dĩ gọi vậy là vì cảnh giới ấy có bốn vị thiên vương ở.

“Dhataraṭṭhaviruḷhaka virūpakkaha kuverasankhatā cattaro ahārājanotha casantīti cātummahārājikā”.

Bốn vị thiên vương đó là: Dhataraṭṭha, Viruḷhaka, Virūpakkha và Kuvera – nên gọi là Tứ đại thiên vương.

2- Đao Lợi (Cõi Trời 33)

Được lấy ý từ câu kinh văn:

“Tettiṃsa sahapuñña karino attha nibbātāti taṃ sahaca ritaṃ thānaṃ tettiṃsaṃ tudevā tāvattiṃsaṃ taṃ nivāso etesanti tavatiṃsa”

Sở dĩ gọi Cõi Trời 33 do một sự tích có 33 người cùng làm phước sự nên đồng sanh lên ở đấy.

Apica tāvatimsatiṃsāti tesaṃ devānaṃ nāmameva

Lại nữa, Cõi Trời 33 còn Đao Lợi thiên vì là cái tên của chư thiên đó vậy1Thật ra Đao Lợi không có ý nghĩa gì cả mà do vừa phiên âm vừa gọi tắt lâu ngày mà ra. Nếu Pāli gọi Tāvatiṃsa (33) thì Sanskrit là Trāyastrimsa mà họ phiên âm là Đát-lị-da-đát-lị-xa. Do phiên âm vậy cũng còn dài, khó nhớ, khó học, họ nói tắt là Đát-lị-da, sau đó chỉ còn Đát-lị, rồi đọc trại thành Đao-lị (Đao lỵ hoặc Đao Lợi cũng giống nhau)..

Ghi chú thêm: Tứ đại thiên vương được xem như 4 vị thiên tướng hộ trì bốn châu thiên hạ nằm dưới quyền lực của trời Sākya (Đế Thích tiên chủ). Vậy cả hai cõi trời này chỉ có một vị vua, ấy là trời Đế Thích mà nhân gian thường gọi là Inda hay tôn danh là Ngọc Hoàng thượng đế.

3- Dạ Ma

Từ câu Pāli:

“Dibbasukhaṃ yata payātā sampat tati yāmā”.

Gọi là Yāmā vì ai làm được nhiều việc lành thì đi đến cõi trời có nhiều thiên lạc này. Vua cõi trời này tên là Suyama.

4- Đẩu Suất

Từ câu đức Phật thuyết: “Tutthā pahaṭṭhāti tusita”.

Là cõi trời nhiều niềm vui, nhiều thích thú, lắm điều thỏa thích hoan hỷ. Vua cõi trời này là Santussita.

5- Hóa Lạc

Từ câu đức Phật Thuyết: “Pakati paṭiyatthāramaṇato atirokona ramitukamalale yathā ruciye kāmabhogenimmi nitva ramantīti nimmānarati”.

Đại ý là, chư tiên cõi này do nhiều phước quả nên tự ý “hóa ra những lạc thú” tùy nghi mà họ dụng như ý nguyện. Có nghĩa là, trong những món dục lạc như ăn uống, trang phục, vui chơi, họ ưa cái gì là tự biến hóa ra cái ấy một cách dễ dàng cho nên gọi là Hóa Lạc Thiên. Vua cõi này là Nimmita.

6- Tha Hóa Tự Tại

Từ câu Pāli: “Cittavāraṃ ñātāparehi nimmitebu bhogesu vasaṃ vattentīti paranimmitavasatī”.

Đại ý, cõi này “hóa lạc” còn cao hơn một bậc, nghĩa là có thể biến hóa ra lâu đài, mỹ nữ, bất cứ ngũ trần nào để thọ hưởng một cách tự tại vô ngại nên gọi là Tha Hóa Tự Tại thiên2Cũng có cánh giải thích khác: Mượn lạc cụ của cõi trời khác mà tự tại du hí, vui chơi (Lấy ý từ điểu Đoàn Trung Còn)..

Vua cõi này có tên là Vasavatī, là Đại ma vương (Mahāmara). Tuy nhiên, có nơi nói rằng, cõi trời này có hai vị vua, một là Vasavatī, chúa chư thiên cõi này. Còn Mara Ma vương có cung điện riêng, lạm danh xưng, tôn là vua. Chính đại ma vương này còn được gọi là Ma-Ba-Tuần (pāpiya)- ông này hay quậy phá Đức Phật, chư tăng ni, sau thỉnh Đức Phật Nhập Diệt.

Trên đây là 6 Cõi Trời Dục Giới, chư thiên ở đây họ hưởng ngũ dục như con người, cả sắc thân và ngũ trần đều là vật chất nhưng chúng vi tế, tinh sạch hơn cõi người rất nhiều. Có thể xem đây là cõi Dục vật chất thịnh mãn, thọ hưởng dục lạc ngũ trần mà thế gian không thể so sánh được.

Giải thích thêm:

* Về nguyên nhân sanh phước

Tất cả 6 Cõi Trời Dục giới nêu trên, nguyên nhân hóa sanh lên đều do phước cả.

Ví dụ: tùy thuộc cấp độ, toàn mãn hay không toàn mãn về tín (đức tin), giới (ngũ giới, bát quan trai giới), văn (nghe pháp), thí (bố thí, cúng dường), tuệ (biết nhân quả, thiện ác).

Phước báu này cũng có thể phát sanh từ 10 nguyên nhân sanh phước: Bố thí, trì giới, tham thiền, cung kính, phục vụ, hồi hướng, công đức, tùy hỷ công đức, thuyết pháp, nghe pháp, chuyển tà kiến thành chánh kiến. Cũng có thể tu tập 10 nghiệp lành…

Đúng là có vô vàn thiện sự để sanh lên các Cõi Trời nhưng quan trọng nhất là hai pháp tàm và quý, bỏ ác làm lành đã là điều kiện cần và đủ.

* Về phước vật

Phước còn tùy thuộc vào vật trân quý hay hạ liệt, vật thí thuộc chánh mạng hay không chánh mạng, tâm hoan hỷ hay không hoan hỷ, có trí hay không có trí, tà kiến hay không tà kiến… (Trường hợp vật thô xấu nhưng người cúng dường có tâm cung kính, trân trọng, hoan hỷ, thỏa thích, trong sạch thì phước quả vẫn thù thắng).

* Về tượng thọ thí

Phước còn tùy thuộc vào người thọ thí là Phật, Độc Giác, Thanh Văn, Tăng, tập thể thí, cá nhân thí, thánh, phàm, có giới, không giới, người hiền lương, người độc ác. Thú vật hiền lành hay thú vật hung dữ… mà sanh ra quả phước khác nhau. Bao giờ, người người thọ thí có giới, có định, có tuệ, tứ vô lượng tâm… phước quả cũng thù thắng hơn. Đa phần người nghèo khổ, bệnh hoàn, tật nguyền – không có giới – và thú vật thì phước rất ít, do nghiệp dữ còn vận hành và tác dụng nơi thân tâm chúng.

* Về sự khoái lạc nhục dục

– Chư thiên cõi Tứ đại thiên vương và Đao Lợi thiên lúc yêu nhau có hành động giao hợp tương tự cõi người.

– Chư thiên cõi Dạ Ma thì chỉ lấy tay sờ vào thân tiên nữ thôi, là coi như đã có khoái lạc giao hợp.

– Chu thiên cõi Đẩu Suất, chỉ nắm tay tiên nữ thôi là coi như đã có khoái lạc giao hợp.

– Chư thiên cõi Hóa Lạc, nhìn tiên nữ mỉm cười thì coi như đã có khoái lạc giao hợp.

– Chư thiên cõi Tha Hóa chỉ đưa mắt nhìn tiên nữ thì coi như đã giao hợp, nhưng ở đây lại không có xúc sinh khoái lạc.

* Sắc Giới

Trên cõi Dục là cõi Sắc. Từ đây trở đi, các vị trời đã chán mứa dục vật chất vì thấy chúng là cái ổ của tham, sân, si, phiền não nên chỉ muốn tìm an vui, hạnh phúc nơi các trạng thái tinh thần – nó nhẹ nhàng và thanh lương hơn – đấy là các trạng thái hỷ, lạc, xả của thiền định. Họ lấy 1 trong 40 đề mục thiền định để tu tập, lần lượt làm lắng dịu 5 triền cái (hôn trầm, thụy miên, nghi, sân, trạo hối, dục), 5 thiền chi xuất hiện (tầm, tứ, phỉ, lạc, nhất tâm) chứng đạt đạt các nấc thiền từ cạn vào sâu, từ thấp lên cao: Ấy là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền sắc giới.

* Một ví dụ về đề mục sắc giới đất (kasiṇa đất)

Người ta lấy một cái khuôn hoặc cái bát có dạng hình tròn, đường kính độ 25 cm, dùng tinh chất đất sét màu nhồi thật nhuyễn rồi trét bằng. Vật ấy được gọi là sơ tướng (parikama nimitta – tướng chuẩn bị khởi đầu, ban đầu). Người tập thiền ngồi và nhìn chăm chú đối tương sắc pháp (sơ tướng) cho đến khi nhắm mắt lại vẫn có thể thấy hình tròn sáng của bát đất. Thường thì hình tròn sáng của bát đất hiện ra một lúc, mờ dần rồi mất hẳn. Người tập thiền phải mở mắt ra và chú tâm chuyên nhất nhìn bát đất trở lại. Cho đến khi nắm mắt lại mà bát đất vẫn thấy bát đất vẫn hiện ra rõ ràng, đấy là thô tướng (uggahanimitta). Gọi là thô tướng vì bát đất kia vẫn còn những dấu vết dọc ngang hoặc lồi lõm của đất sét. Từ thô tướng này, tức là từ hình ảnh tròn sáng hiện ra trong tâm ấy, người tập thiền tiếp tục chú mục, quan sát, nhìn ngắm mãi cho đến khi hình ảnh tròn sáng kia càng ngày càng sáng, sáng trong không còn một tì vết nào. Có thể hình dung mảnh trăng tròn vành vạnh giữa nền trời xanh để thấy rõ lúc “quang tướng tựu thành viên mãn” như thế nào. Có “quang tướng” này mới đi vào định, không có quang tướng hoặc quang tướng chưa sáng trong đúng độ không thể có định sơ thiền được.

Sau đây là ba cảnh giới của sơ thiền, sắp xếp theo tầng mức định thiền từ cạn vào sâu, từ thấp lên cao

7- Phạm chúng thiên

Từ câu: “Mahābrāhmāṇam parisaj jā paricārikāti brāham parisajjā”.

Gọi là phạm chúng thiên vì đây là cư dân, là người hầu, là đệ tử của trời Đại Phạm.

8- Phạm phụ thiên

Từ câu: “Tesaṃpurohitabhāve thitāti brāhma purohitā”.

Các vị này là thư ký, là phụ tá, là bí thư hoặc tham mưu, cố vấn, quân sư cho trời Đại Phạm.

9- Đại phạm thiên

Từ câu Pāli: “Vaṇṇavantāya ceva dīghā yukātāya camahanto brāhmāti mahābrāhmā”.

Đây là vị trời Đại Phạm có uy lực lớn, trường thọ và hào quang có nhiều màu sắc rực rỡ.

Nếu sơ thiền có 5 thiền chi tầm, tứ, phỉ, lạc, nhất tâm thì nhị thiền bỏ tầm, tứ chỉ còn lại phỉ, lạc, nhất tâm3Đây là phân chia theo Kinh, nếu phân chia theo Abhidhamma thì có ngũ thiền, theo đó, nhìn thiền có 4 thiền chỉ: Tứ, phỉ, lạc, nhất tâm..

Ba cảnh giới của nhị thiền cũng được phân định từ cạn vào sâu, từ thấp lên cao.

10- Thiểu quang thiên

Từ câu: “Parittābhā etesanti parittābhā”.

Các vị Phạm Thiên ở cõi này tuy hào quang ít nhưng sáng trong, vững chắc4Tồn nghi: Parittābhā đúng là hào quang ít. Nhưng tại sao cảnh giới Đại Phạm (sơ thiền thuần thục) đã có hào quang nhiều màu sắc rực rỡ còn đây là Nhị thiền lại có hào quang ít? Theo chỗ chúng tôi nghĩ, có lẽ đây tuy hào quang ít thật, nhưng nó vững chắc, ổn định và sáng trong thì hợp với sự vi tế của tâm, của cảnh, của thiền hơn..

11- Vô lượng quang thiên

Từ câu: “Appamaṇābhā etesanti appamāṇābhā”.

Chư vị có hào quang vô giới hạn, sáng trong, vững chắc.

12- Quang âm thiên

Từ câu: “Daṇḍadīpakāya acciriya etesaṃ sarīrato ābhā chijjitvā patantīviya sarati visaratīti ābhassarā”.

Chư vị cõi này có hào quang từ nơi thân túa ra như ngọn lửa hoặc ngọn đèn5Tồn nghi: Cảnh trời thứ 11 đã có hào quang vô lượng lẽ nào cảnh 12 cao hơn nhị thiền đã thuần thục, viên mãn mà hào quang nơi thân túa ra như ngọn lửa hoặc ngọn đèn? Theo chúng tôi được biết quang là ánh sáng, là hào quang; còn âm là tiếng, gọng nói, có thể phạm thiên cõi này họ nói chuyện bằng ngôn ngữ hào quang, ánh sáng chăng?.

Nếu Nhị thiền có 3 thiền chi thì tam thiền bỏ phỉ, chỉ còn 2 là lạc và nhất tâm.

Ba cảnh giới của Tam thiền

13- Thiểu tịnh thiên

Từ câu: “Parittāsubhā etesanti parit tāsubhā”.

Chư vị cõi này thọ hưởng một ít niềm an lạc thanh tịnh nên gọi là Thiểu Tịnh Thiên (vì là mới vào đệ tam thiền, chưa thuần thục nên lạc tịnh chưa được bao nhiêu6Có thể giải thích kiểu khác: Cõi Trời nhị thiền, thấp nên dùng ābhā, ánh sáng. Nhưng đây là cõi trời tam thiền nên dùng các chữ Subhā có nghĩa sáng nhưng là chói sáng, đây có thể là hào quang trong sáng, thanh tịnh ít vì là nấc thấp của tam thiền.).

14- Vô lượng tịnh thiên

Từ câu: “Appamaṇāsubhā etesamti appamaṇāsubhā”.

Phải được hiểu tương tự như trên, nhưng lạc tịnh nhiều hơn, sâu hơn, vô hạn. Theo đó, hào quang của những vị này sáng chói hơn, trong suốt hơn và vững chắc hơn.

15- Biến tịnh thiên

Từ câu: “Subhena obhiññā virakiṇṇā subhena sarirappabhāvannana ekgghanā suvaṇṇa mañju sāya thapitassamajjalitakānañcacana piṇḍassasirikāti”.

Phạm thiên cõi này có lạc tịnh viên mãn bất động, có sắc thân tỏa hào quang chiếu diệu như phiến vàng ròng đựng trong hộp vàng7Có thể là hào quang thanh tịnh, trong suốt, biến mãn..

Nếu tam thiền có hai thiền chi thì tứ thiền, bỏ lạc chỉ còn xả và nhất tâm (tức định xả) mà kinh thường nói là xả niệm thanh tịnh.

Bảy cảnh giới của tứ thiền

16- Vô tưởng thiên

Câu kinh văn: “Saññāvirahitā sattāti asaññī”.

Gọi là Vô Tưởng Thiên vì phạm thiên cõi này “không có tưởng”.

Có thể giải thích rằng, khi còn ở cõi người, tu tập thiền định, chuyên nhất, tinh cần, nhưng vì nghĩ rằng, do các tưởng mà sinh ra tham sân si, phiền não nên đã nhất tâm đoạn lìa các tưởng. Do vậy, họ an trú vào tứ thiền Vô Tưởng Định, lúc hóa sanh rơi vào cõi trời Vô Tưởng này. Tức là một trạng thái “không có tâm”, chỉ có sự diễn tiến của sắc uẩn, còn tứ uẩn, danh uẩn (thọ, tưởng hành định oai nghi nào, ví dụ: ngồi, lâm tử, hóa sanh tức khắc lên cõi trời này đúng theo oai nghi đó, cũng ngồi như thế).

17- Quảng quả thiên

Câu kinh Pāli: “Vipulāphalā etesanti vehapphalā”.

Phạm thiên ở cõi này thọ hưởng được thắng quả thanh tịnh lớn rộng, phi thường.

Giảng giải: Tứ thiền sắc giới, tùy theo năng lực định thanh tịnh – xả niệm thanh tịnh – cạn hay sâu để hóa sanh vào các cảnh giới pham thiên tương ứng. (Các hệ phái khác phân chia bất đồng các cảnh giới này:

Ví dụ Quảng Quả Thiên 16, Vô Tưởng Thiên, 17. Hữu bộ và Kinh bộ đặt Vô Tưởng Thiên nằm trong Quảng Qủa Thiên8Từ điển Đoàn Trung Còn.). Ở đây là, cách phân chia tầng trời tứ thiền theo Thượng Tọa Bộ (Theravāda), theo đó, Quảng Qủa Thiên 17, Vô Tưởng Thiên 16. Cảnh giới này được gọi là rộng lớn vì bất cứ ai đắc tứ thiền cạn hay sâu đều được hóa sanh lên đây (ngoại trừ vô tưởng). Ngay chính các vị thánh (chưa phải là Bất Lai) đắc tứ thiền có 5 năng lực Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ đồng đều cũng trú ở xứ này. Riêng 5 cảnh trời còn lại của tứ thiền sắc giới được gọi chung là Ngũ Tịnh Cư Thiên, như sau:

18- Vô phiền thiên

Có câu: “Attano sampattiyā navihāyanti na vihāyantīti”.

Phạm thiên cõi này thanh tịnh, vắng lặng, không có một phiền não nào có thể phá hoại được phước quả định của họ.

19- Vô nhiệt thiên

Có câu Pāli: “Na kiñci sattaṃ tāpetīti”.

Phạm thiên cõi này, không có ai không có năng lực nào làm cho họ nóng nảy được cả.

20- Thiện kiến thiên

Lấy ý từ câu: “Suṭṭhupassantisundara patesa dassananti sudassī”.

Phạm thiên cõi này do định lực thù thắng nên có được trí kiến rất tốt, rất đúng đắn.

21- Thiện hiện thiên

Từ câu Pāli: “Sundarā dasanā abhi rūpā pāsākāti sudasāvā”.

Phạm thiên cõi này có sắc thân tuyệt hảo, tuyệt mỹ.

22- Sắc cứu cánh thiên

Từ câu Pāli: “Nattettha kanitthāti akanitthā”.

Nghĩa đen là phạm thiên cõi này “không có sắc thân nhỏ”, chỉ có sắc thân rất lớn, rất phi thường bởi đức tính tròn đủ đều nhau cả thảy (bhava sampati). Hiểu cách khác, đây là cõi toàn mãn, rốt ráo, tột cùng của sắc giới nên tuyệt hảo về mọi phương diện: thanh tịnh, sắc thân cũng như hào quan.

Theo Abhidhammathasaṅgaha thì Ngũ Tịnh Cư Thiên là cảnh giới của chư vị Thánh Bất Lai đắc tứ thiền thuần thục, sung mãn, các ngài đều hóa sanh lên đây, bổ túc cho đồng đều 5 năng lực Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ cắt đứt 5 thượng phần kiết sử, đắc quả Alahan rồi Niết bàn luôn tại chỗ.

Khi vừa hóa sanh, 5 năng lực Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ của các vị Thánh Bất Lai do có sự không đồng đều nên phân bố cảnh giới khác nhau như sau:

1- Vô phiền thiên: Dành cho vị Thánh Bất Lai có Tín sung mãn hơn Tấn, Niệm, Định, Tuệ.

2- Vô nhiệt thiên: Dành cho vị Thánh Bất Lai có Tấn sung mãn hơn Tín, Niệm, Định, Tuệ.

3- Thiện kiến thiên: Dành cho vị Thánh Bất Lai có Niệm sung mãn hơn Tín, Tấn, Định, Tuệ.

4- Thiện hiện thiên: Dành cho các vị Thánh Bất Lai có Định sung mãn hơn Tín, Tấn, Niệm, Tuệ.

5- Sắc cứu cánh thiên: Dành cho các vị Thánh Bất Lai có Tuệ sung mãn hơn Tín, Tấn, Định, Niệm.

Như vậy là tứ thiền Sắc giới có 7 cảnh trời phạm thiên; Vô tưởng, Quảng quả và Ngũ tịnh cư thiên.

* Vô Sắc Giới

Trên là 16 cảnh giới lấy sắc pháp làm đề mục tu tập định thiền. Từ đây trở đi, đề mục không còn là sắc pháp nữa mà là vô sắc pháp. Các vị Phạm thiên ở đây đã bắt đầu thấy chán các sắc, thấy sắc còn thô thiển, phiền não, theo đó các trạng thái tâm dẫu nhẹ nhàng, thanh lương nhưng chưa đến chỗ trong suốt, thanh khiết.

Do vậy, họ lấy khái niệm, ý tưởng không có sắc chất và hình thể làm đối tượng, nói cách khác họ từ bỏ các sắc, chỉ còn danh, danh khái niệm, rồi họ chú tâm nhất như vào các “tưởng” ấy.

Để hiểu rõ hơn các đề mục vô sắc, ta hãy trở lại “quang tướng” của sắc giới. Trong quang tướng của sắc giới, người tập thiền đã loại bỏ sắc tướng sơ tướng bên ngoài mà chú tâm vào hình ảnh thô tướng bên trong. Quang tướng bên trong có được là do huân tập “tưởng”, un đúc “tưởng” mà thành. Đây không còn là hình ảnh của bát đất cụ thể nữa mà là hình ảnh khái niệm do tưởng tạo ra. Bước thêm một bước nữa, người tập thiền chú mục vào quang tướng ấy rồi sử dụng tưởng tượng mà tưởng tượng quang tướng, nới rộng nó ra, cho nó tràn lan rồi đầy tràn cả hư không. Đến đây, khi thấy quang tướng đầy ắp cả hư không rồi, người tập thiền khởi lên ý niệm rằng: Hư không là vô biên vô tận (vô sắc pháp) rồi trú định tâm vào hư không vô biên vô tận ấy. Lúc dạt định này, nó có hai thiền chỉ nhất tâm và xả.

Đấy được gọi là thiền vô sắc giới. Do đối tượng khác nhau mà hình thành 4 cảnh giới khác nhau.

23- Không vô biên xứ thiên

Đức Phật có nói rằng: “Ākāsānañcāmeva āyatanaṃ ākāsānañcāayatanaṃ”.

Chư vị phạm thiên ở cõi này trú trong cảnh giới hư không vô biên vô tận nên gọi là Không vô biên xứ thiên.

Giải thích: Trú trong định thiền Không vô biên xứ một thời gian, người tu thiền tự quán xét rồi thấy rằng: Khi mình nghĩ Hư không là vô biên rồi an trú trong Hư không vô biên ấy thì rõ Hư không là vô biên ấy là do ý tưởng tạo nên. Vậy là đã rõ, Hư không vô biên ấy chẳng vô biên tý nào mà chính ý tưởng, thức mới vô biên. Vì nghĩ vậy, người tu thiền bèn lìa đối tượng, trở lại với chủ thể nhìn ngắm rồi an trú trong ý tưởng Thức vô biên của chính mình. Chỉ có hai thiền chi là nhất tâm và xả.

24- Thức vô biên xứ thiền

Câu chữ Pāli: “Viññāṇañcaṃ āyatanaṃ viññāṇañcāyatanam”.

Đại ý, sở dĩ gọi là Thức vô biên xứ thiền vì cõi thức ấy là vô biên vô tận, không có ngần mé, chẳng có nơi cùng tột (āyatana).

Giải thích: Trú trong định này một thời gian, người tu thiền tự quán xét rằng: Hóa ra là mình còn dính mắc. Trước thì dính vào đối tượng, sau lại dính vào chủ thể. Muốn tiến thêm một bậc nữa thì mình phải lìa cả hai, cả đối tượng và chủ thể. Vậy là đến đây, người tu thiền yên trí trú vào cái cõi “vô sở hữu xứ – không có gì cả” (Không năng không sở). Chỉ có hai thiền chỉ là nhất tâm và xả.

25- Vô sở hữu xứ thiên

Câu chữ Pāli: “Ākiñcaññaṃ āyatanaṃ ākiñcaññā yatanaṃ”.

Tương tự như trên – āyatana

– ở đây là không có sự vật gì cả, “không có gì cả” nên gọi là Vô sở hữu xứ thiên.

“Nāssa kiñcananti akiñcanaṃ”. Không có chỗ cho sự bận bịu, và chỗ cuối cùng của tâm sanh diệt cũng không có (do có ý niệm lìa cả chủ thể).

“Kiñcaṃ appamattakaṃ antamaso bhiñgamattampi”. Cho dù một chút bận bịu, dinh mắc nơi chỗ cuối cùng ở nơi tâm cũng không có (lìa chủ thể).

“Kiñcananti kiñcipi”. Nghĩa là tầng trời này cố nắm giữ vững chắc cái “không có cái gì” làm cảnh giới.

Giải thích: Trú trong định này một thời gian, tự quán xét, người tu thiền thấy rõ rằng: Định này dẫu vi tế, tưởng là lìa tất cả, hóa ra, lại tự dính vào ý niệm “Không có gì cả” của chính mình. Vậy muốn tiến cao hơn, muốn không còn dính mắc gì nữa thì mình phải lìa luôn cả “ý niệm không có gì cả” ấy. Định này cũng có hai thiền chỉ nhất tâm và xả.

26- Phi tưởng, phi phi tưởng xứ thiên

Giải nghĩa từ câu Pāli: “Nevasaññānāsaññāaneva āyatana nevasaññānasaññā yatanaṃ”.

Gọi là Phi tưởng, phi phi tưởng xứ thiên là vì ở đây không có tưởng mà cũng chẳng phải không có tưởng.

Giải thích: Do sau khi người tu thiền muốn lìa ý niệm không có gì cả để bước lên một cảnh giới cao hơn, hy vọng sẽ không còn dính mắc nữa. Tuy nhiên, lấy cái gì mà lìa? Phải chăng, phải lấy ý niệm mà lìa ý niệm không có gì cả? Vậy là lìa được, nhưng lại còn dính mắc nơi một ý tưởng rất vi tế, rất mong manh, rất nhỏ nhiệm, nếu nói nó không có tưởng, không đúng, nếu nói nó chẳng phải không có tưởng, cũng không đúng. Thiền này cũng có hai chi là Nhất tâm và xả. Đây là tầng thiền cuối cùng, cao nhất của Vô sắc giới, tột cùng trong tam giới.


Ghi chú:

  • 1
    Thật ra Đao Lợi không có ý nghĩa gì cả mà do vừa phiên âm vừa gọi tắt lâu ngày mà ra. Nếu Pāli gọi Tāvatiṃsa (33) thì Sanskrit là Trāyastrimsa mà họ phiên âm là Đát-lị-da-đát-lị-xa. Do phiên âm vậy cũng còn dài, khó nhớ, khó học, họ nói tắt là Đát-lị-da, sau đó chỉ còn Đát-lị, rồi đọc trại thành Đao-lị (Đao lỵ hoặc Đao Lợi cũng giống nhau).
  • 2
    Cũng có cánh giải thích khác: Mượn lạc cụ của cõi trời khác mà tự tại du hí, vui chơi (Lấy ý từ điểu Đoàn Trung Còn).
  • 3
    Đây là phân chia theo Kinh, nếu phân chia theo Abhidhamma thì có ngũ thiền, theo đó, nhìn thiền có 4 thiền chỉ: Tứ, phỉ, lạc, nhất tâm.
  • 4
    Tồn nghi: Parittābhā đúng là hào quang ít. Nhưng tại sao cảnh giới Đại Phạm (sơ thiền thuần thục) đã có hào quang nhiều màu sắc rực rỡ còn đây là Nhị thiền lại có hào quang ít? Theo chỗ chúng tôi nghĩ, có lẽ đây tuy hào quang ít thật, nhưng nó vững chắc, ổn định và sáng trong thì hợp với sự vi tế của tâm, của cảnh, của thiền hơn.
  • 5
    Tồn nghi: Cảnh trời thứ 11 đã có hào quang vô lượng lẽ nào cảnh 12 cao hơn nhị thiền đã thuần thục, viên mãn mà hào quang nơi thân túa ra như ngọn lửa hoặc ngọn đèn? Theo chúng tôi được biết quang là ánh sáng, là hào quang; còn âm là tiếng, gọng nói, có thể phạm thiên cõi này họ nói chuyện bằng ngôn ngữ hào quang, ánh sáng chăng?
  • 6
    Có thể giải thích kiểu khác: Cõi Trời nhị thiền, thấp nên dùng ābhā, ánh sáng. Nhưng đây là cõi trời tam thiền nên dùng các chữ Subhā có nghĩa sáng nhưng là chói sáng, đây có thể là hào quang trong sáng, thanh tịnh ít vì là nấc thấp của tam thiền.
  • 7
    Có thể là hào quang thanh tịnh, trong suốt, biến mãn.
  • 8
    Từ điển Đoàn Trung Còn.