Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Nhóm Nghiệp cho quả theo tuần tự (thứ tự)

HẬU SỚ GIẢI THẮNG PHÁP TẬP YẾU LUẬN TÓM TẮT
PARAMATTHAJOTIKA MAHĀ ABHIDHAMMATTHASAṄGAHA ṬĪKĀ

CHƯƠNG 4
(quyển 2)

VITHĪMUTTASAṄGAHA

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Thắng Pháp Tập Yếu Luận Pāli và lời dịch
(nhóm 4 nghiệp)
Kammacatukka

Nhóm bốn nghiệp cho quả theo tuần tự (Pākadānapariyayacatukka)

A- Garukamma (trọng nghiệp ) được định nghĩa như sau: Garu! Karotīti: Garukaṃ” Nghiệp nào cho quả sanh lên chắc chắn, nghiệp đó gọi là trọng nghiệp

Một lý khác nữa:

Kammantarehi patibāhituṃ asakkuneyyuttā garukaṃ kammanti: Garukakammam“.

Nghiệp cho quả chắc chắn bởi vì nghiệp khác không có khả năng ngăn chặn được mới gọi là trọng nghiệp. Tức là tà kiến tương ưng (Diṭṭhisampayutta) liên quan đến nghiệp tà kiến nhất định; sân căn liên quan đến nghiệp ngũ nghịch vô gián; chín nghiệp đáo đại. Gom lại thành mười lăm.

Ghi chú: Đối với nghiệp thiện siêu thế cũng là trọng nghiệp. Nhưng trong nơi đây muốn nói đến nghiệp cho quả sanh lên trong kiếp thứ hai. Còn thiện siêu thế không có phận sự làm cho quả sanh lên mà chỉ có phận sự triệt tiêu sanh hữu theo thích ứng với sức mạnh của mình.

Nghiệp được gọi là trọng nghiệp này, đề cập đến nghiệp cho quả chắc chắn có khả năng sanh liền trong kiếp thứ hai mà nghiệp khác không có khả năng ngăn chặn được. Nhưng không nhất định rằng trong tất cả trọng nghiệp với nhau sẽ không có khả năng ngăn chặn lại sự cho quả với nhau. Nghĩa là trọng nghiệp nào có sức mạnh mãnh liệt hơn trọng nghiệp khác thì trọng nghiệp đó sẽ là pháp cho quả. Còn các trọng nghiệp có sức mạnh yếu hơn thì không thành tựu việc cho quả mà chỉ hỗ trợ thôi. Nhưng dù không có cơ hội cho quả sanh lên riêng biệt nhưng nghiệp đó cũng được gọi là trọng nghiệp. Bởi vì nếu trọng nghiệp nặng hơn mình không có, thì trọng nghiệp đó cũng vẫn phải là pháp cho quả sanh lên trong kiếp thứ hai chắc chắn. Như người tạo nghiệp nhất định tà kiến nào đó, về sau tạo một loại nghiệp ngũ nghịch vô gián nữa. Khi thân hoại mệnh chung thì chính nghiệp tà kiến nhất định sẽ cho quả cho người đó sanh vào một trong những đại địa ngục. Bởi nghiệp nhất định tà kiến này nặng hơn nghiệp ngũ nghịch vô gián. Còn đối với năm nghiệp ngũ nghịch vô gián, thì nghiệp chia rẽ Tăng nặng nhất. Nếu định đặt rằng, người nào tạo cả năm nghiệp ngũ nghịch vô gián thì nghiệp chia rẽ Tăng sẽ cho quả với người đó, nghiệp còn lại sẽ là nghiệp hỗ trợ cho việc cho quả của nghiệp chia rẽ Tăng trở đi.

Nghiệp nặng kế tiếp nghiệp chia rẽ Tăng là nghiệp làm đọng máu bầm Phật, kế tiếp nghiệp làm đọng máu bầm Phật là nghiệp giết A La Hán. Còn hai nghiệp giết cha, giết mẹ thì phải căn cứ vào ân đức, nếu ai là người có giới hạnh hơn thì giết người đó bị tội nặng hơn. Cả hai đều có giới hạnh bằng nhau hoặc không có giới hạnh như nhau, thì giết mẹ nặng hơn. Do nhân này trong sớ giải Tăng Chi Bộ Kinh mới trình bày rằng:

Dvīsupi sīlena vā dussīlena vā samānesu mātughātakova paṭisandhivasena vipaccati, mātā hi dukkarakāriṇī bahupakārā ca puttānanti“.

Nghĩa là: “Cho dù cả mẹ và cha có đức hạnh ngang nhau, là người có giới hay không có giới thì chính nghiệp giết mẹ cho quả tái tục. Bởi mẹ là người nhận lãnh gánh nặng khó có thể làm được và là người nuôi dưỡng con nhiều hơn”.

Chín nghiệp thiện đáo dại cũng như vậy, người đã đắc cả chín bậc thiền còn được gọi là thiền tám bậc hay thiền chín bậc. Trong thiền tám bậc hay thiền chín bậc này thì thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ là thiền cao hơn các bậc thiền khác. Vì vậy người đắc thiền mệnh chung thì thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ cho quả sanh lên cõi phi tưởng phi phi tưởng xứ. Thiền còn lại trở thành vô hiệu nghiệp, không thể ủng hộ trợ giúp trong việc cho quả của thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ. Còn đối với năm thiền sắc giới thì chính ngũ thiền sắc giới cho quả sanh lên cõi tứ thiền. Các thiền sắc giới còn lại cũng trở thành vô hiệu nghiệp.

*

Sự khác biệt giữa việc cho quả của bất thiện trọng nghiệp – thiện trọng nghiệp

Bất thiện trọng nghiệp cho dù bản thân không có cơ hội cho quả nhưng cũng có chức năng trì nghiệp. Còn thiện trọng nghiệp khi bản thân không có cơ hội cho quả thì sẽ là vô hiệu nghiệp không có chức năng trì nghiệp. Do nguyên nhân đã đề cập trên, bất thiện trọng nghiệp mới có tên gọi riêng biệt là nghiệp ngũ nghịch vô gián và nghiệp tà kiến nhất định. Còn đối với thiện trọng nghiệp thì không có tên gọi riêng biệt. Nghiệp ngũ nghịch vô gián “Pañcānantariyakamma” khi phân từ được như sau: Pañca + anantara + iya + kamma, pañca: 5, anantara: Cõi mà không gián đoạn sự chết, Iya: Cho quả, Kamma: Hành động.

Nếu gom từ lại thành Pañcānantariyakamma 5 hành động cho quả không gián đoạn sự chết. Như Ngài giáo thọ sư Ṭīka đã trình bày định nghĩa như sau:“Anantare niyuttaṃ kammaṃ: Anantariyakammaṃ“.

Nghiệp liên quan đến việc cho quả tái tục vào cõi không gián đoạn sự chết gọi là vô gián nghiệp.

Nghiệp nhất định tà kiến “Niyatamicchaṭṭhikamma” khi phân từ được như sau: “Niyata + micchā +diṭṭhi + kamma. Niyata: Nhất định chắc chắn, Micchā: Sai lệch sự thật. Diṭṭhi: Sự thấy, Kamma: Hành động.

Nếu gom từ lại thành Niyatamicchādiṭṭhikamma nghĩa là nghiệp thấy sai lệch sự thật cho quả nhất định không gián đoạn sự chết. Như Ngài giáo thọ sư Ṭīka đã trình bày định nghĩa như sau:

Micchā dassānaṃ: Micchādiṭṭhi“. Thấy sai sự thật gọi là tà kiến.

Anantarabhave vipākadānato niyatā ca te micchādiṭṭhi cāti: Niyatamicchādiṭṭhi“.

Nghiệp nào cho quả chắc chắn nối tiếp nhau không gián đoạn sự chết do thấy sai sự thật, nghiệp đó gọi là nhất định tà kiến.

*

Thích giải điều đặc biệt trong Ngũ nghịch vô gián nghiệp

Người giết cha mẹ cho dù không biết đó là cha mẹ, mà cứ ngỡ là người khác đi nữa; sự giết đó thành tựu thì cũng gọi là nghiệp giết cha, giết mẹ. Trong sớ giải Tatiyapārājika trình bày rằng:

“Người nào cố tình giết người khác hoặc giết loài bàng sanh bằng súng hoặc bằng dao đi nữa. Nhưng trong sự giết đó vô tình bắn trúng cha hoặc mẹ chết. Như vậy cũng bị liệt vào nghiệp giết cha, giết mẹ”.

Cha mẹ là bàng sanh mà con là người hoặc con là bàng sanh và cha mẹ là người; con giết cha mẹ trong hai trường hợp này không gọi là vô gián nghiệp. Nhưng loại nghiệp này cũng được liệt vào trọng nghiệp cho quả mãnh liệt như nhau.

Người giết bậc A La Hán cho dù người bị giết trong lúc đó chưa đắc A La Hán và chưa chết liền đi nữa. Nhưng chính trong lúc đó, người bị giết phát triển Minh Sát và chứng đắc A La Hán rồi Níp Bàn; sự cố sát giết người này phạm vào nghiệp giết A La Hán.

Cho dù người chủ tâm giết bậc Chánh Đẳng Giác bằng cách nào đi nữa, thì bậc Chánh Đẳng Giác cũng không thể vong mạng được, chỉ đọng máu bầm mà thôi. Bởi thường nhiên chư Phật Chánh Đẳng Giác không bao giờ bị vong mạng do hành động của người khác gây ra. Tương ứng với lời Đức Phật thuyết rằng: “Buddhānaṃ jīvitassa nasakkā kenaci antarāyo kātum” “Dù cho người hay chư thiên nào đi nữa, gây vong mạng cho chư Phật Chánh Đẳng Giác hằng không thành tựu bao giờ”

Như trong sự việc mà bậc Chánh Đẳng Giác nhận lãnh tai nạn, như sự việc mà Devadatta đã gây ra cho Đức Phật cũng được gọi là phạm vào nghiệp làm chảy máu Phật. Nghiệp làm chảy máu Phật này không thành tựu nghiệp sát sanh đi nữa nhưng cũng thành tựu nghiệp sân ác. Tức ý ác hạnh vì người đó cố tâm làm cho chết.

Gọi là người xúi giục chia rẽ Tăng phải là tỳ khưu và người bị xúi giục cũng phải là tỳ khưu Tăng với nhau. Tỳ khưu Tăng sanh khởi sự chia rẽ nhau trong buổi lễ phát lồ (Uposatha) lúc hành Tăng Sự không hội hợp lại cùng nhau, phân chia thành mỗi nhóm. Khi sự kiện rõ ràng như vậy rồi, thì ngay trong lúc đó vị tỳ khưu xúi giục dù ở trong nhóm nào hoặc không ở trong nhóm nào thì cũng bị gọi là người phạm nghiệp chia rẽ Tăng.

Điều này trình bày cho thấy sa di và cư sĩ đều không tạo nghiệp chia rẽ Tăng được. Nhưng nếu sa di hoặc cư sĩ nào xúi giục làm cho Chư Tăng chia rẽ nhau trong việc liên quan đến nghiệp chia rẽ Tăng hoặc trong việc khác đi nữa. Cho dù không gọi là nghiệp chia rẽ Tăng theo lý thực tánh nhưng cũng bị liệt vào trọng nghiệp cho quả mãnh liệt. Nếu gọi theo lý thông thường thì gọi là nghiệp chia rẽ Tăng cũng được. Riêng đối với nghiệp nhất định tà kiến sẽ được giải thích chi tiết liên quan đến tà kiến trong ý bất thiện nghiệp.

B- Āsannakamma (cận tử nghiệp) được định nghĩa như sau: “Āsanne anussaritaṃ: Āsannaṃ” vā “Āsanne kataṃ: Āsannaṃ

Nhớ đến diều thiện hay bất thiện trong lúc cận tử gọi là cận tử nghiệp. Hoặc hành động thiện hay bất thiện trong lúc cận tử cũng gọi là cận tử nghiệp. Tức mười hai nghiệp bất thiện (trừ nghiệp nhất định tà kiến và nghiệp ngũ nghịch vô gián), tám nghiệp đại thiện (còn đối với nghiệp đáo đại chỉ thuần nhất là trọng nghiệp nên không được xếp vào nơi đây).

Thích giải: Một số bất thiện nghiệp hay thiện nghiệp từng tạo trong thời gian đã qua mà ta không quan tâm đến, thậm chí đã quên mất đi. Nhưng vào lúc cận tử thì nhớ lại được, nếu là bất thiện đã từng làm thì lúc đó bất thiện tâm sẽ sanh khởi, bất thiện này nương vào chính sự ghi nhớ, gọi là bất thiện cận tử nghiệp. Nếu nhớ đến việc thiện đã từng làm lúc đó thiện tâm sẽ khởi hiện, thiện tâm này nương vào chính sự ghi nhớ, gọi là thiện cận tử nghiệp. Đây là sự thích giải định nghĩa theo: “Āsanne anussaritaṃ: Āsannaṃ“.

Hoặc có một số người chưa từng thực tâm tạo phước nay lại phát sanh đức tin muốn tạo trữ thiện pháp làm vốn liếng nương nhờ trong ngày vị lai. Liền kiến tạo thiện pháp như xuất gia, dâng y Kaṭhina, xây dựng giảng đường, tạo giếng nước, xây cất trường học, học pháp, thọ bát quan trai, tu tiến Chỉ Tịnh, Minh Sát… Nhưng trong lúc đang kiến tạo thiện pháp thì có sự cố sanh lên làm cho người đó mệnh chung, hoặc khi kiến tạo thiện pháp hoàn chỉnh rồi thì sau đó không bao lâu mệnh chung; loại thiện nghiệp này được gọi là thiện cận tử nghiệp. Hoặc một số người hưởng sung sướng an lạc không nghĩ đến việc tạo trữ thiện pháp, đến khi bệnh hoạn cảm giác sợ hãi sự chết nên tìm kiếm chỗ nương. Nhận thấy mình chưa có chỗ nào để nương nhờ thì kinh sợ vì biết mình sẽ rơi vào khổ cảnh. Vì vậy, người đó vội vàng kiến tạo thiện pháp như bố thí, thỉnh Chư Tăng đến thọ trì giới, thính pháp, tu tiến Chỉ Tịnh, tu tiến Minh sát… Trong lúc đang tạo trữ thiện pháp đó thì mệnh chung hoặc đã tạo phước hoàn chỉnh rồi thì sau đó không bao lâu mệnh chung. Loại thiện nghiệp này cũng được gọi là thiện cận tử nghiệp.

Còn đối với bất thiện cận tử nghiệp, như người cãi vả, chửi rủa, đánh đập, chém giết lẫn nhau; người bị đánh, bị chém, bị bắn chết trong lúc đó hay sau đó không bao lâu thì chết. Hoặc người đang hành động tà hạnh như sát sanh, trộm cắp… bất thình lình bị bắn chết hay do một nguyên nhân nào đi nữa. Tất cả những việc bất thiện này được gọi là bất thiện cận tử nghiệp.

Hoặc một số người đang đắm nhiễm thỏa thích chơi bời trác táng, rượu chè la ó ồn ào, đang xem phim, coi cải lương… Bởi các hành động này đều liệt vào bất thiện nên trong lúc đó khởi sanh nhân cớ làm cho thiệt mạng, thì các việc làm trên đều được gọi là bất thiện cận tử nghiệp.

Hoặc một vài nhóm tà kiến khi biết mình sẽ phải chết liền lập đàn tế lễ bằng cách giết các loài vật… đem cúng tế thần linh để khi chết mình được sanh về thiên đàng. Thực hiện xong việc làm mang tính cách bất thiện này thì người đó mệnh chung, hành động như thế cũng được gọi là bất thiện cận tử nghiệp.

Đây là thích giải định nghĩa theo: “Āsanne kataṃ Āsannaṃ“.

C- Āciṇṇakamma (thường nghiệp) được dịnh nghĩa như sau: “Ācīyati punappanaṃ karīyatīti: Āciṇṇaṃ

Nghiệp nào mà người luôn tích trữ, nghiệp đó gọi là thường nghiệp. Tức mười hai bất thiện nghiệp, tám đại thiện nghiệp.

Người thường tạo các ác hạnh sai biệt liên quan đến thân, ngữ, ý, dù để nuôi mạng hay không nuôi mạng đi nữa thì các hành động này cũng được gọi là bất thiện thường nghiệp.

Người thường tạo phước như đặt bát hằng ngày, luôn thọ trì năm giới, tám giới, mười giới, hai trăm hai mươi bảy giới, thường được chỉ dạy và học tập trong Pháp Luật, tu tiến Chỉ Tịnh và Minh Sát. Các hành động này được gọi là thiện thường nghiệp.

Lại nữa, đã tạo một ác hạnh nào dù chỉ một lần nhưng người đó thường xuyên nghĩ đến rồi phát sanh cắn rứt lương tâm, buồn phiền bực bội, hối hận… Cũng những ác hạnh đó ngược lại thì phát sanh sự hoan hỷ thích thú… Sự bực bội khó chịu hay sự thích thú thường sanh lên do nương vào suy tư đến hành động ác hạnh của mình đây cũng được gọi là bất thiện thường nghiệp.

D- Kaṭattākamma (khinh tác nghiệp) được định nghĩa như sau: “Kaṭattā eva kammanti: Kaṭattākamma“.

Hành động được gọi là nghiệp bởi do đã làm xong rồi, vì vậy mới được gọi là khinh tác nghiệp. Tức mười hai nghiệp bất thiện, tám nghiệp đại thiện; nghĩa là thiện nghiệp và bất thiện nghiệp đã từng tạo trong kiếp trước kia như một loại hậu báo nghiệp. Các nghiệp này không được tính vào trọng nghiệp, cận tử nghiệp và thường nghiệp mà chỉ là loại nghiệp phổ thông. Bởi người làm không có sự chủ tâm không gắng sức hay không sẳn lòng làm. Sự kiện được đề cập như vậy cũng do từ “Eva” trong câu “Kaṭattā eva kammaṃ” là từ phủ nhận.

Lại nữa, vẫn có thể xếp trọng nghiệp, cận tử nghiệp, thường nghiệp vào khinh tác nghiệp được, vì hành động đã làm xong rồi. Nhưng không được gọi là khinh tác nghiệp bởi vì nhóm nghiệp này có tên gọi riêng biệt. Và từ “Eva” được cấu trúc đó, là từ ngăn lại không cho 3 nhóm nghiệp này được gọi là khinh tác nghiệp.

Cả bốn loại nghiệp đã đề cập trên Ngài giáo thọ sư Anuruddha trình bày đến sự cho quả tái tục như sanh làm chư thiên, bàng sanh… trong kiếp thứ hai theo tuần tự. Do đó mới gọi là “Pākadānapariyāyacatukka“. Từ Pāka: Quả tái tục, Dàna: Cho, Pariyāya: Thời điểm hoặc tuần tự, Catukka: Có bốn loại. Khi gom ý nghĩa lại: Nghiệp cho quả tái tục theo tuần tự có bốn loại.

Do đó, nếu người nào có bốn loại nghiệp thì trọng nghiệp sẽ là nghiệp sẽ cho quả tái tục. Nếu đắc thiền sẽ sanh làm Phạm Thiên còn tạo nghiệp ngũ nghịch vô gián hay nghiệp tà kiến nhất định thì sẽ sanh làm chúng sanh địa ngục, còn đối với các nghiệp còn lại không cho quả tái tục trong kiếp thứ hai mà chỉ cho quả trong thời bình nhật.

Nếu người không có một loại trọng nghiệp nào, nghĩa là người không tạo nghiệp ngũ nghịch vô gián, không thấy sai thuộc tà kiến nhất định và cũng không đắc thiền. Tức phàm nhân bình thường không đắc Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm mà chỉ có ba nghiệp còn lại thì cận tử nghiệp sẽ là nghiệp cho quả tái tục sanh làm người, chư thiên, chúng sanh theo tương ứng với nghiệp và người trong kiếp thứ hai. Còn thường nghiệp và khinh tác nghiệp cả hai sẽ cho quả trong thời bình nhật.

Nếu người không có trọng nghiệp và cận tử nghiệp mà chỉ có hai nghiệp còn lại thì thường nghiệp sẽ cho quả tái tục sanh làm người, chư thiên, chúng sanh khổ cảnh theo tương ứng với nghiệp và người trong kiếp thứ hai. Còn khinh tác nghiệp sẽ cho quả trong thời bình nhật .

Nếu người nào không có cả ba: Trọng nghiệp, cận tử nghiệp, thường nghiệp. Nghĩa là loại người này chưa kịp tạo một loại ác hạnh hay thiện hạnh nào trong cuộc sống thì mệnh chung. Như vậy, chính khinh tác nghiệp sẽ cho quả tái tục sanh làm người, chư thiên, chúng sanh khổ cảnh theo tương ứng. Vì không có chúng sanh nào hiện hữu trong thế gian này mà không có khinh tác nghiệp.

Lại nữa, giữa cận tử nghiệp và thường nghiệp cả hai nghiệp này không cần phải đề cập về việc cho quả trong kiếp thứ hai. Khi nhận xét về khía cạnh diễn tiến thông thường thì thường nghiệp có sức mạnh nhiều hơn cận tử nghiệp vì là nghiệp thường xuyên hành động. Vì vậy, trong sớ giải Thanh Tịnh Đạo và sớ giải Tăng Chi Bộ Kinh mới trình bày đến nghiệp cho quả theo tuần tự rằng:

“Aparampi catubbidhaṃ kammaṃ yaṃ garukaṃ yaṃ bahulaṃ yadāsannaṃ kaṭatā vā pana kammanti“. Một trường hợp khác nữa, nghiệp có bốn loại nói theo sự cho quả theo tuần tự:

– Garukakamma: Trọng nghiệp.

– Bahulakamma: Nghiệp hằng làm nhiều lần.

– Āsannakamma: Cận tử nghiệp.

– Kaṭattākamma: Nghiệp đã từng hành động trong kiếp trước.

Cho dù thường nghiệp có sức mạnh nhiều hơn cận tử nghiệp, nhưng trong việc cho quả tái tục trong kiếp thứ hai thì cận tử nghiệp là nghiệp sanh lên lúc gần lâm chung thường quan trọng hơn nhiều. Thông thường thì người sắp lâm chung thì nghiệp, nghiệp tướng, thú tướng một trong ba tướng cảnh sẽ hiển lộ trong đổng lực cận tử bằng mãnh lực của nghiệp cho quả tái tục trong kiếp thứ hai và là nghiệp có mãnh lực đem đến một trong ba tướng cảnh (Nimitta) cho hiển lộ lên được trong đổng lực cận tử. Chính cận tử nghiệp này sanh lên gần với đổng lực cận tử nên thường có cơ hội nhiều hơn thường nghiệp. Như người chăn bò lùa cả đàn bò có cả bò già lẫn bò non vào trong chuồng. Khi cả đàn bò vào chuồng rồi thì con bò già chậm chạp đi sau cùng lại đứng ngay sát cửa chuồng. Vừa rạng đông, người chăn bò mở cửa chuồng lùa bò ra thì con bò già ấy lại có cơ hội ra trước cả đàn mặc dù sức nó già yếu. Điều này như thế nào thì cận tử nghiệp nói về sức mạnh thì yếu hơn thường nghiệp thật, nhưng là nghiệp sanh lên gần với đổng lực cận tử và có khả năng làm cho một trong ba tướng cảnh (Nimitta) hiển lộ lên được. Từ đó, khẳng định được rằng, chính nghiệp này là nghiệp dẫn dắt chúng sanh tái tục trong cõi thứ hai. Do đó, trong Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhammatthasaṅgaha) mới trình bày đến nghiệp cho quả theo tuần tự bằng cách nêu cận tử nghiệp lên trước thường nghiệp.

Điều dẫn chứng nêu lên: Con bò già đứng gần sát cửa chuồng thường ra khỏi chuồng trước các con bò non đang đứng phía sau. Nhưng nếu con bò già đó không đủ sức mạnh ra khỏi chuồng thì các con bò khác đứng phía sau cũng có cơ hội ra khỏi chuồng trước con bò già. Dẫn chứng trên cho ta thấy: Cận tử nghiệp yếu sức mạnh thì không có khả năng đem đến một trong ba tướng cảnh (Nimitta) cho hiển lộ lên trong đổng lực cận tử được. Cho nên nếu cận tử nghiệp yếu sức mạnh thì cơ hội cho quả tái tục trong kiếp thứ hai phải là thường nghiệp đảm nhận vai trò làm cho một trong ba tướng cảnh hiển lộ lên trong đổng lực cận tử cho quả tái tục trong kiếp thứ hai. Như vậy thì thường nghiệp phải đứng thứ hai theo thứ tự và cận tử nghiệp xuống đứng thứ ba đúng theo sớ giải Thanh Tịnh Đạo và sớ giải Tăng Chi Bộ Kinh đã trình bày.

Lại nữa, theo sớ giải Thanh Tịnh Đạo thì sự cho quả của nghiệp theo tuần tự bằng cách nêu thường nghiệp lên trước cận tử nghiệp để cho hiểu thêm được rằng: Cận tử nghiệp của người đó nếu yếu thì khinh tác nghiệp và thường nghiệp không có khả năng hỗ trợ cho cận tử nghiệp cho quả tái tục được. Do nhân này mới xuống tới chức năng của thường nghiệp cho quả tái tục bởi nhận được sự trợ giúp ủng hộ từ khinh tác nghiệp, chính là hậu báo nghiệp.

Trang chủ » Sưu Tập Pháp » Tỳ Khưu Khải Minh » Thắng Pháp Tập Yếu Luận » Nhóm Nghiệp cho quả theo tuần tự (thứ tự)