Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

AN 3.12. Tưởng Nhớ

Bài Kinh Số 3.12
Aṅguttara Nikāya 3.12

2. Phẩm Người Đánh Xe
2. Rathakāravagga

Tưởng Nhớ
Sāraṇīyasutta

Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ. Thế nào là ba?
“Tīṇimāni, bhikkhave, rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti. Katamāni tīṇi?

Tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh được sanh ra. Đây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Yasmiṁ, bhikkhave, padese rājā khattiyo muddhāvasitto jāto hoti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.

Lại nữa, tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ được làm lễ quán đảnh. Đây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese rājā khattiyo muddhāvasitto hoti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sau khi chiến thắng một trận, tại chỗ vị ấy chiếm như là cầm đầu trong cuộc chiến thắng. Đây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese rājā khattiyo muddhāvasitto saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.

Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba pháp này, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ. Thế nào là ba?
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tīṇimāni bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti. Katamāni tīṇi?

Tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa; xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Đây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Yasmiṁ, bhikkhave, padese bhikkhu kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, Tỷ-kheo như thật biết rõ: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Đây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, môt Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.

Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.”
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavantī”ti.

Dutiyaṁ.