Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN1.20 Samiddhi

Kuṭikāsutta

Như vầy tôi nghe.
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.

Một thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodārāma (Tịnh xá Suối nước nóng).
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati tapodārāme.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Hot Springs Monastery.

Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô.
Atha kho āyasmā samiddhi rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya yena tapodā tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ. Tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.
Then Venerable Samiddhi rose at the crack of dawn and went to the hot springs to bathe. When he had bathed and emerged from the water he stood in one robe drying himself.

Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài kệ với Tôn giả Samiddhi:
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ tapodaṁ obhāsetvā yena āyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāsaṁ ṭhitā āyasmantaṁ samiddhiṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire hot springs, went up to Samiddhi, and, standing in the air, addressed him in verse:

“Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian.”
“Abhutvā bhikkhasi bhikkhu,
na hi bhutvāna bhikkhasi;
Bhutvāna bhikkhu bhikkhassu,
mā taṁ kālo upaccagā”ti.
“Mendicant, you seek alms before you eat;
you wouldn’t seek alms after eating.
But you should eat first, then seek alms:
don’t let the time pass you by.”

(Samiddhi):
“Thời Ông, ta không biết.
Thời ta, ẩn không hiện.
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta.”
“Kālaṁ vohaṁ na jānāmi,
channo kālo na dissati;
Tasmā abhutvā bhikkhāmi,
mā maṁ kālo upaccagā”ti.
“I actually don’t know the time;
it’s hidden and unseen.
That’s why I seek alms before eating,
so that the time may not pass me by!”

Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
Atha kho sā devatā pathaviyaṁ patiṭṭhahitvā āyasmantaṁ samiddhiṁ etadavoca:
Then that deity landed on the ground and said to Samiddhi,

“Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.”
“daharo tvaṁ, bhikkhu, pabbajito susu kāḷakeso, bhadrena yobbanena samannāgato, paṭhamena vayasā, anikkīḷitāvī kāmesu. Bhuñja, bhikkhu, mānusake kāme; mā sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvī”ti.
“You’ve gone forth while young, mendicant. You’re black-haired, blessed with youth, in the prime of life, and you’ve never flirted with sensual pleasures. Enjoy human sensual pleasures! Don’t give up what is visible in the present to chase after what takes effect over time.”

“Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.”
“Na khvāhaṁ, āvuso, sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvāmi. Kālikañca khvāhaṁ, āvuso, hitvā sandiṭṭhikaṁ anudhāvāmi. Kālikā hi, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo. Sandiṭṭhiko ayaṁ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti.
“I’m not, good sir; I’m giving up what takes effect over time to chase after what is visible in the present. For the Buddha has said that sensual pleasures take effect over time, with much suffering and distress, and they’re all the more full of drawbacks. But this teaching is visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.”

“Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?”
“Kathañca, bhikkhu, kālikā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo? Kathaṁ sandiṭṭhiko ayaṁ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti?
“But in what way, mendicant, has the Buddha said that sensual pleasures take effect over time, with much suffering and distress, and they’re all the more full of drawbacks? And how is this teaching visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves?”

“Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Rājagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.”
“Ahaṁ kho, āvuso, navo acirapabbajito adhunāgato imaṁ dhammavinayaṁ. Na tāhaṁ sakkomi vitthārena ācikkhituṁ. Ayaṁ so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho rājagahe viharati tapodārāme. Taṁ bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccha. Yathā te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsī”ti.
“I’m junior, good sir, recently gone forth, newly come to this teaching and training. I’m not able to explain this in detail. But the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha is staying near Rājagaha in the Hot Springs Monatery. You should go to him and ask about this matter. And you should remember it in line with the Buddha’s answer.”

“Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn ấy và hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để nghe pháp.”
“Na kho, bhikkhu, sukaro so bhagavā amhehi upasaṅkamituṁ, aññāhi mahesakkhāhi devatāhi parivuto. Sace kho tvaṁ, bhikkhu, taṁ bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccheyyāsi, mayampi āgaccheyyāma dhammassavanāyā”ti.
“It’s not easy for us to approach the Buddha, as he is surrounded by other illustrious deities. If you go to the Buddha and ask him about this matter, we’ll come along and listen to the teaching.”

“Thưa vâng, Hiền giả.” Tôn giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
“Evamāvuso”ti kho āyasmā samiddhi tassā devatāya paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā samiddhi bhagavantaṁ etadavoca:
“Yes, good sir,” Venerable Samiddhi replied. He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then he added:

“Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, con đứng đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn, rồi một vị Thiên, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng nước nóng, đi đến con, sau khi đến, đứng giữa hư không và nói lên bài kệ này:”
“Idhāhaṁ, bhante, rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya yena tapodā tenupasaṅkamiṁ gattāni parisiñcituṁ. Tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsiṁ gattāni pubbāpayamāno. Atha kho, bhante, aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ tapodaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāsaṁ ṭhitā imāya gāthāya ajjhabhāsi:
Here, Venerable Sir, late at night, I rose at the crack of dawn and went to the hot springs to bathe. When I had bathed and emerged from the water I stood in one robe drying myself. Then, a glorious deity, lighting up the entire hot springs, went up to me, and, standing in the air, addressed me in verse:

“Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian.”
‘Abhutvā bhikkhasi bhikkhu,
na hi bhutvāna bhikkhasi;
Bhutvāna bhikkhu bhikkhassu,
mā taṁ kālo upaccagā’ti.
“Mendicant, you seek alms before you eat;
you wouldn’t seek alms after eating.
But you should eat first, then seek alms:
don’t let the time pass you by.”

Khi nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy bằng bài kệ:
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ devataṁ gāthāya paccabhāsiṁ:
Having heard that, Venerable Sir, I replied that deity in verse:

“Thời Ông, ta không biết,
Thời ta, ẩn không hiện,
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta.”
‘Kālaṁ vohaṁ na jānāmi,
channo kālo na dissati;
Tasmā abhutvā bhikkhāmi,
mā maṁ kālo upaccagā’ti.
“I actually don’t know the time;
it’s hidden and unseen.
That’s why I seek alms before eating,
so that the time may not pass me by!”

Bạch Thế Tôn, rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với con:
Atha kho, bhante, sā devatā pathaviyaṁ patiṭṭhahitvā maṁ etadavoca:
Then, Venerable Sir, that deity stood on the ground and said to me:

“Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối.”
‘daharo tvaṁ, bhikkhu, pabbajito susu kāḷakeso, bhadrena yobbanena samannāgato, paṭhamena vayasā, anikkīḷitāvī kāmesu. Bhuñja, bhikkhu, mānusake kāme; mā sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvī’ti.
“You’ve gone forth while young, mendicant. You’re black-haired, blessed with youth, in the prime of life, and you’ve never flirted with sensual pleasures. Enjoy human sensual pleasures! Don’t give up what is visible in the present to chase after what takes effect over time.”

Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, taṁ devataṁ etadavocaṁ:
Having heard that, Venerable Sir, I replied that deity:

“Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Những gì thuộc thời gian, này Hiền giả, là các dục, được nói đến là nhiều khổ đau, nhiều phiền não (upàyàsa), nguy hiểm ở đấy lại nhiều hơn. Còn pháp này thuộc hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.”
‘na khvāhaṁ, āvuso, sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvāmi; kālikañca khvāhaṁ, āvuso, hitvā sandiṭṭhikaṁ anudhāvāmi. Kālikā hi, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo. Sandiṭṭhiko ayaṁ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
“I’m not, good sir; I’m giving up what takes effect over time to chase after what is visible in the present. For the Buddha has said that sensual pleasures take effect over time, with much suffering and distress, and they’re all the more full of drawbacks. But this teaching is visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.”

Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
Evaṁ vutte, bhante, sā devatā maṁ etadavoca:
Having heard that, Venerable Sir, that deity said to me:

“Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?”
‘kathañca, bhikkhu, kālikā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo? Kathaṁ sandiṭṭhiko ayaṁ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti?
“But in what way, mendicant, has the Buddha said that sensual pleasures take effect over time, with much suffering and distress, and they’re all the more full of drawbacks? And how is this teaching visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves?”

Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, taṁ devataṁ etadavocaṁ:
Having heard that, Venerable Sir, I said to that deity:

“Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông về pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Rājagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.”
‘ahaṁ kho, āvuso, navo acirapabbajito adhunāgato imaṁ dhammavinayaṁ, na tāhaṁ sakkomi vitthārena ācikkhituṁ. Ayaṁ so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho rājagahe viharati tapodārāme. Taṁ bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccha. Yathā te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsī’ti.
“I’m junior, good sir, recently gone forth, newly come to this teaching and training. I’m not able to explain this in detail. But the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha is staying near Rājagaha in the Hot Springs Monatery. You should go to him and ask about this matter. And you should remember it in line with the Buddha’s answer.”

Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
Evaṁ vutte, bhante, sā devatā maṁ etadavoca:
Having heard that, Venerable Sir, that deity said to me:

“ Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được các chư Thiên khác có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn và hỏi ý nghĩa ấy, chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp.”
‘na kho, bhikkhu, sukaro so bhagavā amhehi upasaṅkamituṁ, aññāhi mahesakkhāhi devatāhi parivuto. Sace kho tvaṁ, bhikkhu, taṁ bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccheyyāsi, mayampi āgaccheyyāma dhammassavanāyā’ti.
“It’s not easy for us to approach the Buddha, as he is surrounded by other illustrious deities. If you go to the Buddha and ask him about this matter, we’ll come along and listen to the teaching.”

“Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị ấy ở đây, không xa bao nhiêu.”
Sace, bhante, tassā devatāya saccaṁ vacanaṁ, idheva sā devatā avidūre”ti.
“Sir, if that deity spoke the truth, he’ll be close by.”

Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi như sau:
Evaṁ vutte, sā devatā āyasmantaṁ samiddhiṁ etadavoca:
When he had spoken, that deity said to Samiddhi,

“Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến rồi.”
“puccha, bhikkhu, puccha, bhikkhu, yamahaṁ anuppattā”ti.
“Ask, mendicant, ask! For I have arrived.”

Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:
Atha kho bhagavā taṁ devataṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
Then the Buddha addressed the deity in verse:

“Chúng sanh được hiểu biết,
Những điều được nói lên,
Và chấp trước thái độ,
Trên những điều được nói.
Nếu họ không liễu tri
Những điều được nói lên,
Họ đi đến trói buộc.
Do thần chết chi phối,
“Akkheyyasaññino sattā,
akkheyyasmiṁ patiṭṭhitā;
Akkheyyaṁ apariññāya,
yogamāyanti maccuno.
“Sentient beings who perceive the communicable,
become established in the communicable.
Not understanding the communicable,
they fall under the yoke of Death.

Nếu họ liễu tri được
Những điều được nói lên,
Họ không có tưởng tri,
Những điều được nói ra.
Ðối với vị như vậy,
Lỗi lầm nhất định không.
Nếu các Ông có biết,
Hãy nói lên Dạ-xoa.”
Akkheyyañca pariññāya,
Akkhātāraṁ na maññati;
Tañhi tassa na hotīti,
Yena naṁ vajjā na tassa atthi;
Sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti.
But having fully understood the communicable,
they don’t identify as a communicator,
for they have nothing
by which they might be described.
Tell me if you understand, spirit.”

“Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.”
“Na khvāhaṁ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi. Sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ jāneyyan”ti.
“I don’t understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”

(Thế Tôn):
“Bằng, thắng hay thua Ta,
Nghĩ vậy đấu tranh khởi;
Cả ba không dao động,
Bằng, thắng không khởi lên.
Nếu như Ông có biết,
Hãy nói lên, Dạ-xoa.”
“Samo visesī uda vā nihīno, 
Yo maññatī so vivadetha tena; 
Tīsu vidhāsu avikampamāno,
Samo visesīti na tassa hoti;
Sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti.
“If you think that ‘I’m equal,
special, or worse’, you’ll get into arguments.
Unwavering in the face of the three discriminations,
you’ll have no thought ‘I’m equal or special’.
Tell me if you understand, spirit.”

“Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.”
“Imassapi khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa na vitthārena atthaṁ ājānāmi. Sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ jāneyyan”ti.
“I don’t understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”

(Thế Tôn):
“Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Từ bỏ mọi tham ái,
Ðối danh sắc ở đời,
Vị ấy đoạn triền phược,
Không lo âu, không ái.
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy.
Nếu Ông biết người ấy
Hãy nói lên, Dạ-xoa.”
“Pahāsi saṅkhaṁ na vimānamajjhagā,
Acchecchi taṇhaṁ idha nāmarūpe; 
Taṁ chinnaganthaṁ anighaṁ nirāsaṁ,
Pariyesamānā nājjhagamuṁ;
Devā manussā idha vā huraṁ vā,
Saggesu vā sabbanivesanesu.
Sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti.
“Judging is given up, conceit rejected;
craving for name and form is cut off right here.
They’ve cut the ties, untroubled, with no need for hope.
Though gods and humans search for them
in this world and the world beyond, they never find them,
not in heaven nor in any abode.
Tell me if you understand, spirit.”

“Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa rộng rãi như sau:
“Imassa khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi—
“This is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement:

Khắp thế giới chớ làm,
Ðiều ác thân, miệng, ý,
Từ bỏ mọi ái dục,
Chánh niệm, tâm tỉnh giác,
Không khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.”
Pāpaṁ na kayirā vacasā manasā,
Kāyena vā kiñcana sabbaloke;
Kāme pahāya satimā sampajāno,
Dukkhaṁ na sevetha anatthasaṁhitan”ti.
You should never do anything bad
by speech or mind or body in all the world.
Having given up sensual pleasures, mindful and aware,
you shouldn’t keep doing what’s painful and pointless.”

NANDANAVAGGO DUTIYO.12. Phẩm Vườn Hoan Hỷ

Tassuddānaṁ2Đoạn kệ ngắn tóm tắt tiêu đề các bài kinh trong phẩm này.

Nandanā nandati ceva,
Natthiputtasamena ca;
Khattiyo saṇamāno ca,
Niddātandī ca dukkaraṁ;
Hirī kuṭikā navamo,
Dasamo vutto samiddhināti.

  • 1
    2. Phẩm Vườn Hoan Hỷ
  • 2
    Đoạn kệ ngắn tóm tắt tiêu đề các bài kinh trong phẩm này.