Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN1.32 Xan Tham

Maccharisutta

Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then, late at night, several glorious deities of the Satullapa Group, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. Standing to one side, one deity recited this verse in the Buddha’s presence:

“Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.”
“Maccherā ca pamādā ca,
evaṁ dānaṁ na dīyati; 
Puññaṁ ākaṅkhamānena,
deyyaṁ hoti vijānatā”ti.
“Because of stinginess and negligence
a gift is not given.
Wanting merit,
a smart person would give.”

Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
Then another deity recited these verses in the Buddha’s presence:

“Ðiều kẻ xan tham sợ,
Nên không dám bố thí,
Sợ ấy đến với họ,
Chính vì không bố thí.
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Chính là đói và khát,
Kẻ ngu phải cảm thọ,
Ðời này và đời sau.
“Yasseva bhīto na dadāti maccharī,
Tadevādadato bhayaṁ;
Jighacchā ca pipāsā ca,
Yassa bhāyati maccharī;
Tameva bālaṁ phusati,
Asmiṁ loke paramhi ca.
“When a miser fails to give because of fear,
the very thing they’re afraid of comes to pass.
The hunger and thirst
that a miser fears
hurt the fool
in this world and the next.

Vậy hãy chế xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vững an trú,
Công đức trong đời sau.”
Tasmā vineyya maccheraṁ,
dajjā dānaṁ malābhibhū;
Puññāni paralokasmiṁ,
patiṭṭhā honti pāṇinan”ti.
So you should dispel stinginess,
overcoming that stain, and give a gift.
The good deeds of sentient beings
support them in the next world.”

Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
Then another deity recited these verses in the Buddha’s presence:

“Không chết giữa người chết,
Như thiện hữu trên đường,
San sẻ lương thực hiếm,
Thường pháp là như vậy.
“Te matesu na mīyanti,
panthānaṁva sahabbajaṁ;
Appasmiṁ ye pavecchanti,
esa dhammo sanantano.
“Among the dead they do not die,
those who, like fellow travelers on the road,
are happy to provide, though they have but little.
This is an eternal truth.

Kẻ ít, vui san sẻ,
Kẻ nhiều khó, đem cho,
Bố thí từ kẻ khó,
Ðong được ngàn đồng vàng.”
Appasmeke pavecchanti,
bahuneke na dicchare;
Appasmā dakkhiṇā dinnā,
sahassena samaṁ mitā”ti.
Some who have little are happy to provide,
while some who have much don’t wish to give.
An offering given from little
is multiplied a thousand times.”

Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
Then another deity recited these verses in the Buddha’s presence:

“Khó thay sự đem cho,
Khó thay làm hạnh ấy.
Kẻ ác khó tùy thuận,
Khó thay pháp bậc lành.
“Duddadaṁ dadamānānaṁ,
dukkaraṁ kamma kubbataṁ;
Asanto nānukubbanti,
sataṁ dhammo duranvayo.
“Giving what’s hard to give,
doing what’s hard to do;
the wicked don’t act like this,
for the teaching of the good is hard to follow.

Do vậy kẻ hiền, ác,
Sanh thú phải sai khác,
Kẻ ác sanh địa ngục,
Người lành lên cõi trời.”
Tasmā satañca asataṁ, 
nānā hoti ito gati;
Asanto nirayaṁ yanti,
santo saggaparāyanā”ti.
That’s why the virtuous and the wicked
have different destinations after leaving this place.
The wicked go to hell,
while the virtuous are bound for heaven.”

Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một cách tốt đẹp?”
Atha kho aparā devatā bhagavato santike etadavoca: “kassa nu kho, bhagavā, subhāsitan”ti?
Then another deity said to the Buddha, “Sir, who has spoken well?”

“Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:
“Sabbāsaṁ vo subhāsitaṁ pariyāyena; api ca mamapi suṇātha—
“You’ve all spoken well in your own way. However, listen to me also:

“Sở hành vẫn chơn chánh,
Dầu phải sống vụn vặt,
Dầu phải nuôi vợ con,
Với đồ ăn lượm lặt,
Nhưng vẫn bố thí được,
Từ vật chứa ít ỏi,
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.”
Dhammaṁ care yopi samuñjakaṁ care,
Dārañca posaṁ dadamappakasmiṁ;
Sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ,
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.
A hundred thousand people making a thousand sacrifices
isn’t worth a fraction
of one who lives rightly, wandering for gleanings,
or one who supports their partner from what little they have.”

Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Atha kho aparā devatā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then another deity addressed the Buddha in verse:

“Vì sao họ bố thí,
Rộng lớn nhiều như vậy,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí?
Sao ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy?”
“Kenesa yañño vipulo mahaggato,
Samena dinnassa na agghameti;
Kathaṁ sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ, 
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.
“Why doesn’t that sacrifice of theirs, so abundant and magnificent,
equal the value of a moral person’s gift?
How is it that a hundred thousand people making a thousand sacrifices
isn’t worth a fraction of what’s offered by such a person?”

(Thế Tôn):
“Có những người bố thí,
Một cách bất bình thường,
Sau khi chém và giết,
Mới làm vơi nỗi sầu.
Sự bố thí như vậy,
Ðầy nước mắt đánh đập,
Thí bình an, vô uý;
Chớ nên vì số lượng.1Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli.

“Dadanti heke visame niviṭṭhā,
Chetvā vadhitvā atha socayitvā;
Sā dakkhiṇā assumukhā sadaṇḍā,
Samena dinnassa na agghameti.
“Some give based on immorality—
after injuring, killing, and tormenting.
Such an offering—tearful, violent—
in no way equals the value of a moral person’s gift.

Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,

Người bố thí như vậy.”
Evaṁ sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ,
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.
That’s how it is that a hundred thousand people making a thousand sacrifices
isn’t worth a fraction of what’s offered by such a person.”

  • 1
    Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli.