Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN1.34 Chúng Không Phải

Nasantisutta

Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.

Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then, late at night, several glorious deities of the Satullapa Group, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. Standing to one side, one deity recited this verse in the Buddha’s presence:

“Giữa loài Người chúng ta,
Có các dục vô thường.
Ai hưởng chúng ở đời,
Bị chúng trói, chúng buộc.
Phóng dật đối với chúng,
Khó thoát ly với chúng,
Người nào khó thoát ly,
Bị thần chết chinh phục.”
“Na santi kāmā manujesu niccā,
Santīdha kamanīyāni yesu baddho; 
Yesu pamatto apunāgamanaṁ,
Anāgantā puriso maccudheyyā”ti.
“Among humans there are no sensual pleasures that are permanent.
Here there are sensuous things, bound to which,
drunk on which, there’s no coming back.
That person doesn’t return here from Death’s domain.”

“Họa từ dục vọng sanh,
Khổ từ dục vọng khởi,
Dục vọng được nhiếp phục,
Nhờ vậy họa nhiếp phục,
Tai họa được nhiếp phục,
Nhờ vậy khổ nhiếp phục.”
“Chandajaṁ aghaṁ chandajaṁ dukkhaṁ,
Chandavinayā aghavinayo;
Aghavinayā dukkhavinayo”ti.
“Misery is born of desire; suffering is born of desire;
when desire is removed, misery is removed;
when misery is removed, suffering is removed.”

“Vật sai biệt ở đời,
Chúng không phải các dục,
Chính tư niệm tham ái,
Là dục vọng con người.
Vật sai biệt tồn tại,
Như vậy ở trên đời,
Do vậy bậc Hiền trí,
Ðiều phục các dục vọng.
“Na te kāmā yāni citrāni loke,
Saṅkapparāgo purisassa kāmo;
Tiṭṭhanti citrāni tatheva loke,
Athettha dhīrā vinayanti chandaṁ.
“The world’s pretty things aren’t sensual pleasures.
Greedy intention is a person’s sensual pleasure.
The world’s pretty things stay just as they are,
but a wise one removes desire for them.

Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả,
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy,
Khổ không thể đến được,
Với ai không có gì.
Kodhaṁ jahe vippajaheyya mānaṁ,
Saṁyojanaṁ sabbamatikkameyya;
Taṁ nāma­rūpa­s­mi­masaj­ja­māna­ṁ,
Akiñcanaṁ nānupatanti dukkhā.
Give up anger, get rid of conceit,
and get past all the fetters.
Sufferings don’t torment the one who has nothing,
not clinging to name and form.

Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Cắt đứt mọi tham ái,
Với danh sắc ở đời.
Vị ấy đoạn phiền trược,
Không lo âu, không ái;
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy,
Họ tìm nhưng không thấy,
Vị giải thoát như vậy.”
Pahāsi saṅkhaṁ na vimānamajjhagā, 
Acchecchi taṇhaṁ idha nāmarūpe;
Taṁ chinnaganthaṁ anighaṁ nirāsaṁ,
Pariyesamānā nājjhagamuṁ;
Devā manussā idha vā huraṁ vā,
Saggesu vā sabbanivesanesū”ti.
Judging’s given up, conceit rejected;
craving for name and form is cut off right here.
They’ve cut the ties, untroubled, with no need for hope.
Though gods and humans search for them
in this world and the world beyond, they never find them,
not in heaven nor in any abode.”

(Tôn giả Mogharàjà nói như vầy)
“Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Bậc tối thượng loài Người,
Lo hạnh phúc chúng sanh,
Họ đảnh lễ vị ấy,
Nên tán thán họ không?”
“Tañce hi nāddakkhuṁ tathāvimuttaṁ,
(iccāyasmā mogharājā)
Devā manussā idha vā huraṁ vā;
Naruttamaṁ atthacaraṁ narānaṁ,
Ye taṁ namassanti pasaṁsiyā te”ti.
“If neither gods nor humans see one freed in this way,”
said Venerable Mogharājā,
“in this world or the world beyond,
are those who revere that supreme person,
who lives for the good of mankind, also worthy of praise?”

(Bậc Thế Tôn lên tiếng)
“Này Mogharàjà
Họ cũng nên tán thán,
Bậc giải thoát như vậy.
Này Tỷ-kheo khất sĩ,
Nếu họ biết Chánh pháp,
Ðoạn trừ được nghi hoặc,
Họ trở thành giải thoát.”
“Pasaṁsiyā tepi bhavanti bhikkhū,
(mogharājāti bhagavā)
Ye taṁ namassanti tathāvimuttaṁ;
Aññāya dhammaṁ vicikicchaṁ pahāya,
Saṅgātigā tepi bhavanti bhikkhū”ti.
“The mendicants who revere one freed in this way,”
said the Buddha,
“are also worthy of praise, Mogharājā.
But having understood the teaching and given up doubt,
those mendicants can escape their chains.”