Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN2.25 Jantu

Jantusutta

Như vầy tôi nghe.
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.

Một thời một số đông Tỷ-kheo trú ở Kosala (Câu-tát-la), trên sườn núi Himavanta (Tuyết sơn), tại một cốc nhỏ trong rừng. Họ tự cao, tự mãn, dao động, lắm mồm lắm miệng, ăn nói huyên thuyên, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự.
ekaṁ samayaṁ sambahulā bhikkhū, kosalesu viharanti himavantapasse araññakuṭikāya uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā pākatindriyā.
At one time several mendicants were staying in the Kosalan lands, in a wilderness hut on the slopes of the Himalayas. They were restless, insolent, fickle, scurrilous, loose-tongued, unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds and undisciplined faculties.

Rồi Thiên tử Jantu, vào đêm Bố-tát, ngày rằm, đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói lên bài kệ với các Tỷ-kheo ấy:
Atha kho jantu devaputto tadahuposathe pannarase yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū gāthāhi ajjhabhāsi:
Then on the fifteenth day sabbath the god Jantu went up to those mendicants and addressed them in verse:

“Các Tỷ-kheo thuở xưa,
Sống thật chơn an lạc,
Họ thật là đệ tử,
Bậc Ðại Giác Cù-đàm.
Không ham tìm món ăn,
Không ham tìm chỗ trú,
Biết đời là vô thường,
Họ chấm dứt khổ đau.
“Sukhajīvino pure āsuṁ,
bhikkhū gotamasāvakā;
Anicchā piṇḍamesanā, 
anicchā sayanāsanaṁ;
Loke aniccataṁ ñatvā,
dukkhassantaṁ akaṁsu te.
“The mendicants used to live happily,
as disciples of Gotama.
Desireless they sought alms;
desireless they used their lodgings.
Knowing that the world was impermanent
they made an end of suffering.

Nay tự làm ác hạnh,
Như thôn trưởng trong làng.
Họ ăn, ăn ngả gục,
Thèm khát vật nhà người.
Dupposaṁ katvā attānaṁ,
gāme gāmaṇikā viya;
Bhutvā bhutvā nipajjanti,
parāgāresu mucchitā.
But now they’ve made themselves hard to look after,
like chiefs in a village.
They eat and eat and then lie down,
unconscious in the homes of others.

Con vái chào chúng Tăng,
Ðảnh lễ một vài vị
Kẻ khác, sống vất vưởng,
Không chỉ đạo, hướng dẫn.
Họ giống như thân thể
Kẻ chết bị quăng bỏ.
Saṅghassa añjaliṁ katvā,
idhekacce vadāmahaṁ; 
Apaviddhā anāthā te,
yathā petā tatheva te.
Having raised my joined palms to the Saṅgha,
I speak here only about certain people.
They’re rejects, with no protector,
just like those who have passed away.

Những ai sống phóng dật,
Vì họ con nói lên,
Những ai không phóng dật,
Chân thành, con đảnh lễ.”
Ye kho pamattā viharanti,
te me sandhāya bhāsitaṁ;
Ye appamattā viharanti,
namo tesaṁ karomahan”ti.
I’m speaking about
those who live negligently.
To those who live diligently
I pay homage.”