Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN3.12 Năm Vua

Pañcarājasutta

Tại Sāvatthi.
Sāvatthinidānaṁ.
At Sāvatthī.

Một thời, năm vị vua, với vua Pasenadi nước Kosala là thượng thủ, đang thọ hưởng, được cung cấp và được đoanh vây với năm dục công đức. Câu chuyện sau đây được khởi lên giữa các vị ấy: “Dục lạc nào tối thượng?”
Tena kho pana samayena pañcannaṁ rājūnaṁ pasenadipamukhānaṁ pañcahi kāmaguṇehi samappitānaṁ samaṅgībhūtānaṁ paricārayamānānaṁ ayamantarākathā udapādi: “kiṁ nu kho kāmānaṁ aggan”ti?
Now at that time five kings headed by Pasenadi were amusing themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation, and this discussion came up among them: “What’s the best of sensual pleasures?”

Ở đây, có người nói: “Sắc là dục tối thượng”;
Tatrekacce evamāhaṁsu: “rūpā kāmānaṁ aggan”ti.
Some of them said, “Sights are the best of sensual pleasures!”

có người nói: “Tiếng là dục tối thượng”;
Ekacce evamāhaṁsu: “saddā kāmānaṁ aggan”ti.
Others said, “Sounds are best!”

có người nói: “Hương là dục tối thượng”;
Ekacce evamāhaṁsu: “gandhā kāmānaṁ aggan”ti.
Others said, “Smells are best!”

có người nói: “Vị là dục tối thượng”;
Ekacce evamāhaṁsu: “rasā kāmānaṁ aggan”ti.
Others said, “Tastes are best!”

có người nói: “Xúc là dục tối thượng”.
Ekacce evamāhaṁsu: “phoṭṭhabbā kāmānaṁ aggan”ti.
Others said, “Touches are best!”

Và các vua ấy không thể thuyết phục nhau về vấn đề này. Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với các vua ấy:
Yato kho te rājāno nāsakkhiṁsu aññamaññaṁ saññāpetuṁ. Atha kho rājā pasenadi kosalo te rājāno etadavoca:
Since those kings were unable to persuade each other, King Pasenadi said to them,

—Chư Tôn giả, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến hãy hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.
“āyāma, mārisā, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etamatthaṁ paṭipucchissāma. Yathā no bhagavā byākarissati tathā naṁ dhāressāmā”ti.
“Come, good sirs, let’s go to the Buddha and ask him about this. As he answers, so we’ll remember it.”

“Thưa vâng, Tôn giả.” Các vua ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala.
“Evaṁ, mārisā”ti kho te rājāno rañño pasenadissa kosalassa paccassosuṁ.
“Yes, dear sir,” replied those kings.

Rồi năm vua ấy, với vua Pasenadi nước Kosala là thượng thủ, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Atha kho te pañca rājāno pasenadipamukhā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Then those five kings headed by Pasenadi went to the Buddha, bowed, and sat down to one side.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
King Pasenadi reported their conversation to the Buddha, and said,

—Ở đây, bạch Thế Tôn, năm vua chúng con đang thọ hưởng, được cung cấp, được đoanh vây với năm dục công đức, câu chuyện sau đây được khởi lên giữa chúng con: “Dục nào là tối thượng?”. Có người nói: “Sắc là dục tối thượng”. Có người nói: “Tiếng là dục tối thượng”. Có người nói: “Hương là dục tối thượng”. Có người nói: “Vị là dục tối thượng”. Có người nói: “Xúc là dục tối thượng”. Bạch Thế Tôn, dục nào là tối thượng?
“idha, bhante, amhākaṁ pañcannaṁ rājūnaṁ pañcahi kāmaguṇehi samappitānaṁ samaṅgībhūtānaṁ paricārayamānānaṁ ayamantarākathā udapādi: ‘kiṁ nu kho kāmānaṁ aggan’ti? Ekacce evamāhaṁsu: ‘rūpā kāmānaṁ aggan’ti. Ekacce evamāhaṁsu: ‘saddā kāmānaṁ aggan’ti. Ekacce evamāhaṁsu: ‘gandhā kāmānaṁ aggan’ti. Ekacce evamāhaṁsu: ‘rasā kāmānaṁ aggan’ti. Ekacce evamāhaṁsu: ‘phoṭṭhabbā kāmānaṁ aggan’ti. Kiṁ nu kho, bhante, kāmānaṁ aggan”ti?
“Sir, what’s the best of sensual pleasures?”

—Thưa Ðại vương, tùy theo cùng độ ưa thích mà Ta nói rằng dục ấy là tối thượng trong năm dục công đức. Và thưa Ðại vương, các sắc ấy đối với một số người được ưa thích, các sắc ấy đối với một số người không được ưa thích. Thưa Ðại vương, nếu một ai ưa thích đối với các sắc pháp, tâm viên ý mãn, không có muốn các sắc pháp nào khác hơn, các sắc pháp nào tốt đẹp hơn các sắc pháp ấy, thời đối với vị này, các sắc pháp ấy là tối thượng, đối với vị này, các sắc pháp ấy là vô thượng.
“Manāpapariyantaṁ khvāhaṁ, mahārāja, pañcasu kāmaguṇesu agganti vadāmi. Teva, mahārāja, rūpā ekaccassa manāpā honti, teva rūpā ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo rūpehi attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo, so tehi rūpehi aññaṁ rūpaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti. Te tassa rūpā paramā honti. Te tassa rūpā anuttarā honti.
“Great king, which kind of sensual stimulation is best is defined by which is most agreeable, I say. The very same sights that are agreeable to some are disagreeable to others. When you’re happy with certain sights, as you’ve got all you wished for, you don’t want any other sight that’s better or finer. For you, those sights are perfect and supreme.

Thưa Ðại vương, các tiếng ấy … các hương ấy … các vị ấy … . Thưa Ðại vương, các xúc ấy đối với một số người được ưa thích, các xúc ấy đối với một số người không được ưa thích. Thưa Ðại vương, nếu một ai ưa thích đối với xúc pháp, tâm viên ý mãn, không có ý muốn các xúc pháp nào khác hơn, các xúc pháp nào tốt hơn các xúc pháp ấy, thời đối với vị này, các xúc pháp ấy là tối thượng, các xúc pháp ấy là vô thượng.
Teva, mahārāja, saddā ekaccassa manāpā honti, teva saddā ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo saddehi attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo, so tehi saddehi aññaṁ saddaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti. Te tassa saddā paramā honti. Te tassa saddā anuttarā honti. Teva, mahārāja, gandhā ekaccassa manāpā honti, teva gandhā ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo gandhehi attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo, so tehi gandhehi aññaṁ gandhaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti. Te tassa gandhā paramā honti. Te tassa gandhā anuttarā honti. Teva, mahārāja, rasā ekaccassa manāpā honti, teva rasā ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo rasehi attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo, so tehi rasehi aññaṁ rasaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti. Te tassa rasā paramā honti. Te tassa rasā anuttarā honti. Teva, mahārāja, phoṭṭhabbā ekaccassa manāpā honti, teva phoṭṭhabbā ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo phoṭṭhabbehi attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo, so tehi phoṭṭhabbehi aññaṁ phoṭṭhabbaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti. Te tassa phoṭṭhabbā paramā honti. Te tassa phoṭṭhabbā anuttarā hontī”ti.
The very same sounds … smells … tastes … touches that are agreeable to some are disagreeable to others. When you’re happy with certain touches, as you’ve got all you wished for, you don’t want any other touch that’s better or finer. For you, those touches are perfect and supreme.”

Lúc bấy giờ, có cư sĩ Candanaṅgalika đang ngồi trong hội chúng ấy. Rồi cư sĩ Candanaṅgalika từ chỗ ngồi đứng dậy đắp thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
Tena kho pana samayena candanaṅgaliko upāsako tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti. Atha kho candanaṅgaliko upāsako uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
Now at that time the lay follower Candanaṅgalika was sitting in that assembly. Then he got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said,

—Bạch Thế Tôn, một tư tưởng khởi lên nơi con. Bạch Thiện Thệ, một tư tưởng khởi lên nơi con.
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”

Thế Tôn nói: “Này Candanangalika, hãy nói lên tư tưởng ấy.”
“Paṭibhātu taṁ, candanaṅgalikā”ti bhagavā avoca.
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.

Rồi cư sĩ Candanangalika trước mặt Thế Tôn tán thán với một bài kệ thích nghi:
Atha kho candanaṅgaliko upāsako bhagavato sammukhā tadanurūpāya gāthāya abhitthavi:
Then the lay follower Candanaṅgalika extolled the Buddha in his presence with an appropriate verse:

“Giống như hoa sen đỏ,
Nực thơm mùi hương dịu,
Sáng sớm tinh sương nở,
Với hương hoa ứ đọng.
Hãy xem Aṅgīrasa1AṄGĪRASA:[m] tên tộc của đức Phật; bậc rực rỡ; vẻ vang; chói lọi (theo Từ Điển Pali-Việt – bản dịch của ngài Bửu Chơn),
Chói hào quang chiếu diệu,
Như mặt trời sáng chói,
Giữa hư không bao la.”
“Padumaṁ yathā kokanadaṁ sugandhaṁ,
Pāto siyā phullamavītagandhaṁ;
Aṅgīrasaṁ passa virocamānaṁ,
Tapantamādiccamivantalikkhe”ti.
“Like a fragrant pink lotus
that blooms in the morning,
its fragrance unfaded—
see Aṅgīrasa shine,
bright as the sun in the sky!”

Rồi năm vị vua ấy đắp năm áo lên trên mình cư sĩ Candanangalika. Nhưng cư sĩ Candanangalika đắp năm áo ấy lên trên thân Thế Tôn.
Atha kho te pañca rājāno candanaṅgalikaṁ upāsakaṁ pañcahi uttarāsaṅgehi acchādesuṁ. Atha kho candanaṅgaliko upāsako tehi pañcahi uttarāsaṅgehi bhagavantaṁ acchādesīti.
Then those five kings clothed Candanaṅgalika with five upper robes. And Candanaṅgalika in turn endowed the Buddha with those robes.

  • 1
    AṄGĪRASA:[m] tên tộc của đức Phật; bậc rực rỡ; vẻ vang; chói lọi (theo Từ Điển Pali-Việt – bản dịch của ngài Bửu Chơn)