Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN4.13 Phiến Ðá

Sakalikasutta

Như vầy tôi nghe.
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.

Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), tại Maddakucchi, vườn Nai (Migadaya).
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati maddakucchismiṁ migadāye.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Maddakucchi deer park.

Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị phiến đá gây thương tích. Thế Tôn cảm xúc khốc liệt, toàn thân đau đớn, nhói đau, đau nhức mãnh liệt, không thích thú, không vừa ý. Và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, không bị phiền não chế ngự1Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli.. Sau đó, Thế Tôn lấy tấm y ngoài gập làm bốn rồi nằm xuống phía hông bên phải theo thế nằm của con sư tử, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác.2Đoạn này không có trong bản dịch của Ngài Minh Châu. Người soạn dịch dựa trên bản tiếng Pāli.
Tena kho pana samayena bhagavato pādo sakalikāya khato hoti, bhusā sudaṁ bhagavato vedanā vattanti sārīrikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā asātā amanāpā. Tā sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāseti avihaññamāno. Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno.
Now at that time the Buddha’s foot had been cut by a splinter. The Buddha was stricken by harrowing pains; physical feelings that were painful, sharp, severe, acute, unpleasant, and disagreeable. But he endured unbothered, with mindfulness and situational awareness. And then he spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware.

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

Sao Ngài nằm uể oải?
Hay Ngài đã say Thơ?
Không tĩnh lặng, dư dật,
Độc cư sống nơi đó,
Đang ngủ hay uể oải,
Có chuyện gì hay sao?
3Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli.
“Mandiyā nu kho sesi udāhu kāveyyamatto,
Atthā nu te sampacurā na santi;
Eko vivitte sayanāsanamhi,
Niddāmukho kimidaṁ soppase vā”ti.
“Are you feeble that you lie down?
Or are you drunk on poetry?
Don’t you have all that you need?
Alone in a secluded lodging,
why this sleeping, sleepyhead?”

(Thế Tôn):
Ta không nằm uể oải
Cũng không phải say thơ,
lợi ích tĩnh lặng,
Ta thoát khỏi khổ đau,
Độc cư sống nơi đó,
Ta nằm xuống nghỉ ngơi
Từ bi với chúng sanh.4Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli.

“Na mandiyā sayāmi nāpi kāveyyamatto,
Atthaṁ sameccāhamapetasoko;
Eko vivitte sayanāsanamhi,
Sayāmahaṁ sabbabhūtānukampī.
“I’m not feeble that I lie down,
nor am I drunk on poetry.
Having reached the goal, I’m rid of sorrow.
Alone in a secluded lodging,
I lie down full of compassion for all living creatures.

Những kẻ, ngực bị đâm,
Hổn hển tim dồn dập,
Vẫn tìm được giấc ngủ,
Dầu bị thương tích nặng.
Sao Ta lại không ngủ,
Khi không bị thương tích.
Yesampi sallaṁ urasi paviṭṭhaṁ,
Muhuṁ muhuṁ hadayaṁ vedhamānaṁ;
Tepīdha soppaṁ labhare sasallā,
Tasmā ahaṁ na supe vītasallo.
Even those with a dart stuck in the breast,
piercing the heart again and again,
are able to get some sleep.
So why not I, whose dart is drawn out?

Khi thức không âu lo,
Khi ngủ chẳng sợ hãi,
Ngày đêm không khởi lên,
Phiền não bận lòng Ta?
Ta không thấy tai hại,
Một chỗ nào trên đời,
Do vậy, Ta nằm nghỉ,
Tâm từ với chúng sanh.”
Jaggaṁ na saṅke napi bhemi sottuṁ,
Rattindivā nānutapanti māmaṁ;
Hāniṁ na passāmi kuhiñci loke,
Tasmā supe sabbabhūtānukampī”ti.
I don’t lie awake tense, nor do I fear to sleep.
The days and nights don’t disturb me,
as I see no decline for myself in the world.
That’s why I lie down
full of compassion for all living creatures.”

Rồi Ác ma biết được: ” Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

  • 1
    Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli.
  • 2
    Đoạn này không có trong bản dịch của Ngài Minh Châu. Người soạn dịch dựa trên bản tiếng Pāli.
  • 3
    Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli.
  • 4
    Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli.