Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN4.18 Ðoàn Thực

Piṇḍasutta

Một thời Thế Tôn trú ở Magadha, tại làng Bà-la-môn tên là Pañcasālā.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā magadhesu viharati pañcasālāyaṁ brāhmaṇagāme.
At one time the Buddha was staying in the land of the Magadhans near the brahmin village of Pañcasālā.

Lúc bấy giờ, tại làng Bà-la-môn tên là Pañcasālā, lễ trao đổi tặng vật giữa nam nữ thanh niên đang được xảy ra.
Tena kho pana samayena pañcasālāyaṁ brāhmaṇagāme kumārikānaṁ pāhunakāni bhavanti.
Now at that time in Pañcasālā the young women were taking care of guests.

Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát đi vào làng Bà-la-môn Pañcasālā để khất thực.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pāvisi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Pañcasālā for alms.

Lúc bấy giờ, các Bà-la-môn gia chủ ở Pañcasālā bị Ác Ma xâm nhập và quyết định: “Chớ để Sa-môn Gotama nhận được đồ ăn khất thực”.
Tena kho pana samayena pañcasāleyyakā brāhmaṇagahapatikā mārena pāpimatā anvāviṭṭhā bhavanti: “mā samaṇo gotamo piṇḍamalatthā”ti.
Now at that time Māra had possessed the brahmins and householders of Pañcasālā, so that they thought, “Don’t let the ascetic Gotama get any alms!”

Rồi Thế Tôn đi vào làng Bà-la-môn tên Pañcasālā để khất thực với bình bát rửa sạch như thế nào, cũng đã trở về cùng với bình bát được rửa sạch như vậy.
Atha kho bhagavā yathādhotena pattena pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pāvisi tathādhotena pattena paṭikkami.
Then the Buddha left the village with his bowl as clean-washed as it was when he entered for alms.

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói với Thế Tôn:
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
Then Māra the Wicked went up to the Buddha and said to him,

—Này Sa-môn, Ngài có nhận được đồ ăn khất thực không?
“api tvaṁ, samaṇa, piṇḍamalatthā”ti?
“Well, ascetic, did you get any alms?”

—Này Ác ma, có phải Ông làm cho Ta không nhận được đồ ăn khất thực?
“Tathā nu tvaṁ, pāpima, akāsi yathāhaṁ piṇḍaṁ na labheyyan”ti.
“Wicked One, did you make sure I didn’t get any alms?”

—Vâng bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đi vào làng Bà-la-môn Pañcasālā một lần thứ hai nữa. Và tôi sẽ làm để Thế Tôn nhận được đồ ăn khất thực.
“Tena hi, bhante, bhagavā dutiyampi pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisatu. Tathāhaṁ karissāmi yathā bhagavā piṇḍaṁ lacchatī”ti.
“Well then, sir, let the Buddha enter Pañcasālā a second time for alms. I’ll make sure you get alms.”

(Thế Tôn):
“Ác ma làm điều ác,
Ðể tấn công Như Lai,
Này Ác ma, vì sao,
Ông có thể nghĩ rằng,
Ðiều ác Ông hại Ta,
Sẽ không có kết quả.
“Apuññaṁ pasavi māro,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Kiṁ nu maññasi pāpima,
na me pāpaṁ vipaccati.
“Māra’s made bad karma
in attacking the Realized One.
Wicked One, do you imagine that
your wickedness won’t bear fruit?

Chúng ta sống sung sướng,
Những người không có gì,
Như chư Thiên Quang Âm,
hào quang sáng chói,
Lấy hỷ làm đồ ăn.”
Susukhaṁ vata jīvāma,
yesaṁ no natthi kiñcanaṁ;
Pītibhakkhā bhavissāma,
devā ābhassarā yathā”ti.
Let us live so very happily,
we who have nothing.
We shall feed on rapture,
like the gods of streaming radiance.”

Rồi Ác ma được biết: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.