Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN4.20 Thống Trị

Rajjasutta

Một thời Thế Tôn ở Kosala, dưới chân núi Tuyết Sơn, tại một am thất nhỏ trong rừng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu viharati himavantapadese araññakuṭikāyaṁ.
At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans, in a wilderness hut on the slopes of the Himalayas.

Trong khi Thế Tôn Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Có thể chăng cai trị mà không giết hại, không để người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp?”.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “sakkā nu kho rajjaṁ kāretuṁ ahanaṁ aghātayaṁ ajinaṁ ajāpayaṁ asocaṁ asocāpayaṁ dhammenā”ti?
Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “I wonder if it’s possible to rule legitimately, without killing or having someone kill for you; without conquering or having someone conquer for you; without sorrowing or causing sorrow?”

Rồi Ác ma, biết được tâm tư Thế Tôn như vậy, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
Atha kho māro pāpimā bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
And then Māra the Wicked, knowing what the Buddha was thinking, went up to him and said,

—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp.
“kāretu, bhante, bhagavā rajjaṁ, kāretu, sugato, rajjaṁ ahanaṁ aghātayaṁ ajinaṁ ajāpayaṁ asocaṁ asocāpayaṁ dhammenā”ti.
“Rule, Blessed One! Rule, Holy One! Rule legitimately, without killing or having someone kill for you; without conquering or having someone conquer for you; without sorrowing or causing sorrow!”

—Này Ác ma, Ông thấy gì mà Ông nói với Ta như vậy: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại…, … một cách đúng pháp”?
“Kiṁ pana me tvaṁ, pāpima, passasi yaṁ maṁ tvaṁ evaṁ vadesi: ‘kāretu, bhante, bhagavā rajjaṁ, kāretu sugato, rajjaṁ ahanaṁ aghātayaṁ ajinaṁ ajāpayaṁ asocaṁ asocāpayaṁ dhammenā’”ti?
“But what do you see, Wicked One, that you say this to me?”

—Bạch Thế Tôn, bốn như ý túc đã được Thế Tôn tu tập, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành căn cứ địa, kiên trì, chất chứa, khéo áp dụng. Và bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn muốn núi Tuyết Sơn, vua các loài núi, trở thành vàng, Thế Tôn có thể quyết định như vậy, và ngọn núi có thể trở thành vàng.
“Bhagavatā kho, bhante, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. Ākaṅkhamāno ca, bhante, bhagavā himavantaṁ pabbatarājaṁ suvaṇṇaṁ tveva adhimucceyya suvaṇṇañca panassā”ti.
“The Blessed One, sir, has developed and cultivated the four bases for psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them. If he wished, the Blessed One need only determine that the Himalaya, king of mountains, was gold, and it would turn into gold.”

(Thế Tôn):
“Dầu cho cả ngọn núi,
Trở thành toàn vàng ròng,
Cho đến hóa gấp đôi,
Cũng không thỏa mãn được,
Tham vọng của một người.
Biết vậy hãy hành trì.
“Pabbatassa suvaṇṇassa,
jātarūpassa kevalo;
Dvittāva nālamekassa,
iti vidvā samañcare.
“Take a golden mountain,
made entirely of gold, and double it—
it’s still not enough for one!
Knowing this, live a moral life.

Ai thấy rõ đau khổ,
Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng ái dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng.”
Yo dukkhamaddakkhi yatonidānaṁ,
Kāmesu so jantu kathaṁ nameyya;
Upadhiṁ viditvā saṅgoti loke,
Tasseva jantu vinayāya sikkhe”ti.
When a person has seen where suffering comes from
how could they incline towards sensual pleasures?
Realizing that attachment is a snare in the world,
a person would train to remove it.”

Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, sầu khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

DUTIYO VAGGO.12. Phẩm Thứ Hai

Tassuddānaṁ2Đoạn kệ ngắn tóm tắt tiêu đề các bài kinh trong phẩm này.

Pāsāṇo sīho sakalikaṁ, 
Patirūpañca mānasaṁ;
Pattaṁ āyatanaṁ piṇḍaṁ,
Kassakaṁ rajjena te dasāti.

  • 1
    2. Phẩm Thứ Hai
  • 2
    Đoạn kệ ngắn tóm tắt tiêu đề các bài kinh trong phẩm này.