Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN4.1 Khổ Hạnh Và Nghiệp

Tapokammasutta

Như vầy tôi nghe.
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.

Một thời Thế Tôn ở Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā, dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha, khi Ngài vừa giác ngộ.
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhamūle paṭhamābhisambuddho.
At one time, when he was first awakened, the Buddha was staying near Uruvelā at the root of the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.

Rồi Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh ấy. Tốt lành thay, thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh không liên hệ đến lợi ích ấy! Tốt lành thay, Ta kiên trì, chánh niệm, chứng đạt Bồ-đề!”
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “mutto vatamhi tāya dukkarakārikāya. Sādhu mutto vatamhi tāya anatthasaṁhitāya dukkarakārikāya. Sādhu vatamhi mutto bodhiṁ samajjhagan”ti.
Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “I am truly freed from that grueling work! Thank goodness I’m freed from that pointless grueling work. Thank goodness that, steadfast and mindful, I have attained awakening.”

Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Atha kho māro pāpimā bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
And then Māra the Wicked, knowing what the Buddha was thinking, went up to him and addressed him in verse:

Từ bỏ pháp khổ hạnh,
Giúp thanh niên trong sạch,
Không tịnh, nghĩ mình tịnh,
Ði ngược thanh tịnh đạo.”
“Tapokammā apakkamma,
ye na sujjhanti māṇavā;
Asuddho maññasi suddho,
suddhimaggā aparaddho”ti.
“You’ve departed from the practice of mortification
by which humans purify themselves.
You’re impure, but think yourself pure;
you’ve strayed from the path of purity.”

Rồi Thế Tôn, biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Atha kho bhagavā “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:

“Biết được pháp khổ hạnh,
Ðược xem là bất tử,
Pháp ấy không lợi ích,
Không đem lợi ích nào,
Như chèo và bánh lái,
Chiếc thuyền trên đất cạn.
“Anatthasaṁhitaṁ ñatvā,
yaṁ kiñci amaraṁ tapaṁ;
Sabbaṁ natthāvahaṁ hoti,
phiyārittaṁva dhammani.
“I realized that it’s pointless;
all that mortification in search of immortality
is as futile
as oars and rudder on dry land.

Giới, địnhtrí tuệ,
Con đường hướng chánh giác.
Ta tu tập hạnh ấy,
Ðạt được tối thắng tịnh,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông bị bại trận rồi.”
Sīlaṁ samādhi paññañca,
Maggaṁ bodhāya bhāvayaṁ;
Pattosmi paramaṁ suddhiṁ,
Nihato tvamasi antakā”ti.
Ethics, immersion, and wisdom:
by developing this path to awakening
I attained ultimate purity.
You’re beaten, terminator!”

Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti, dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.