Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN4.2 Con Voi

Hatthirājavaṇṇasutta

Như vầy tôi nghe.
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.

Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelā, bên bờ sông Neranjarā, dưới cây Nigrodha Ajapāla, khi Ngài mới giác ngộ.
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhamūle paṭhamābhisambuddho.
At one time, when he was first awakened, the Buddha was staying near Uruvelā at the root of the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.
Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṁ abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṁ phusāyati.
Now at that time the Buddha was meditating in the open during the dark of night, while a gentle rain drizzled down.

Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền biến hình thành con voi chúa to lớn và đi đến Thế Tôn.
Atha kho māro pāpimā bhagavato bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo mahantaṁ hatthirājavaṇṇaṁ abhinimminitvā yena bhagavā tenupasaṅkami.
Then Māra the Wicked, wanting to make the Buddha feel fear, terror, and goosebumps, manifested in the form of a huge elephant king and approached him.

Và đầu con voi ví như hòn đá đen lớn (aritthako), ngà của nó ví như bạc trắng tinh, vòi của nó ví như đầu cái cày lớn.
Seyyathāpi nāma suddhaṁ rūpiyaṁ; evamassa dantā honti. Seyyathāpi nāma mahatī naṅgalīsā; evamassa soṇḍo hoti.
Its head was like a huge block of soapstone. Its tusks were like pure silver. Its trunk was like a long plough pole.

Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Atha kho bhagavā “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, addressed him in verse:

“Ông luân hồi dài dài,
Hình thức đẹp và xấu1Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli. “Subhāsubhaṃ” nghĩa là đẹp và xấu..
Thôi vừa rồi, Ác ma,
Ông đã bị bại trận.”
“Saṁsaraṁ dīghamaddhānaṁ,
Vaṇṇaṁ katvā subhāsubhaṁ;
Alaṁ te tena pāpima,
Nihato tvamasi antakā”ti.
“Transmigrating for such a long time,
you’ve made forms beautiful and ugly.
Enough of this, Wicked One!
You’re beaten, terminator!”

Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

  • 1
    Người soạn thay đổi so với bản dịch của Ngài Minh Châu, dựa trên bản tiếng Pāli. “Subhāsubhaṃ” nghĩa là đẹp và xấu.