Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN4.6 Con Rắn

Sappasutta

Như vầy tôi nghe.
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.

Một thời Thế Tôn ở Rājagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.
Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṁ abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṁ phusāyati.
Now at that time the Buddha was meditating in the open during the dark of night, while a gentle rain drizzled down.

Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, bèn biến thành con đại xà vương và đi đến Thế Tôn.
Atha kho māro pāpimā bhagavato bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo mahantaṁ sapparājavaṇṇaṁ abhinimminitvā yena bhagavā tenupasaṅkami.
Then Māra the Wicked, wanting to make the Buddha feel fear, terror, and goosebumps, manifested in the form of a huge serpent king and approached him.

Thân của nó to lớn ví như một chiếc thuyền đẽo ra từ một thân cây. Cái mang của nó ví như cái khay đan của người nấu rượu. Mắt của nó ví như cái đĩa bằng đồng của nước Kosala; lưỡi của nó le ra từ miệng ví như mũi tên chớp sáng lòe khi trời mưa gió sấm sét; tiếng hơi thở vô, hơi thở ra của nó ví như bệ thổi của người thợ rèn.
Seyyathāpi nāma mahatī ekarukkhikā nāvā; evamassa kāyo hoti. Seyyathāpi nāma mahantaṁ soṇḍikākiḷañjaṁ; evamassa phaṇo hoti. Seyyathāpi nāma mahatī kosalikā kaṁsapāti; evamassa akkhīni bhavanti. Seyyathāpi nāma deve gaḷagaḷāyante vijjullatā niccharanti; evamassa mukhato jivhā niccharati. Seyyathāpi nāma kammāragaggariyā dhamamānāya saddo hoti; evamassa assāsapassāsānaṁ saddo hoti.
Its body was like a huge canoe carved from a single tree. Its hood was like a large brewer’s sieve. Its eyes were like those big bronze dishes from Kosala. Its tongue flickered from its mouth like lightning flashes in a thunderstorm. The sound of its breathing was like the puffing of a blacksmith’s bellows.

Rồi Thế Tôn biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ này với Ác ma:
Atha kho bhagavā “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:

“Quý thay bậc Mâu-ni,
Sống trong nhà không, tịch,
Biết chế ngự tự ngã,
Tại đấy vị ấy trú.
“Yo suññagehāni sevati,
Seyyā so muni attasaññato;
Vossajja careyya tattha so,
Patirūpañhi tathāvidhassa taṁ.
“A self-controlled sage frequents
empty buildings for lodging.
It’s appropriate for such a person
to live there after relinquishing.

Sống từ bỏ tất cả,
Với hạnh tu tương xứng,
Nhiều loại thú bộ hành,
Nhiều sự vật khủng khiếp,
Nhiều ruồi muỗi độc xà,
Không mảy may rung động
Sợi lông bậc Mâu-ni
Sống trong nhà không, tịch.
Carakā bahū bheravā bahū,
Atho ḍaṁsasarīsapā bahū;
Lomampi na tattha iñjaye,
Suññāgāragato mahāmuni.
Though there are lots of creepy crawlies,
and lots of flies and snakes,
they wouldn’t stir a hair
of a great sage in that empty hut.

Dầu trời nứt, đất động,
Dầu muôn loài khủng bố,
Dầu bị giáo, đao, tên,
Quẳng ném vào ngực Ngài,
Chư Phật không tạo nên,
Những căn cứ sanh y.”
Nabhaṁ phaleyya pathavī caleyya,
Sabbepi pāṇā uda santaseyyuṁ;
Sallampi ce urasi pakappayeyyuṁ,
Upadhīsu tāṇaṁ na karonti buddhā”ti.
Though the sky may split and the earth may quake,
and all creatures be stricken with fear;
and even if an arrow’s aimed at their breast,
the Buddhas take no shelter in attachments.”

Rồi Ác ma biết được: ” Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, liền biến mất tại chỗ.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.