Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN4.22 Samiddhi

Samiddhisutta

Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkā, tại Silāvatī.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati silāvatiyaṁ.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans near Silāvatī.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Tena kho pana samayena āyasmā samiddhi bhagavato avidūre appamatto ātāpī pahitatto viharati.
Now at that time Venerable Samiddhi was meditating not far from the Buddha, diligent, keen, and resolute.

Rồi Tôn giả Samiddhi, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi những vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!”
Atha kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me satthā arahaṁ sammāsambuddho. Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito. Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā”ti.
Then as Venerable Samiddhi was in private retreat this thought came to his mind, “I’m so fortunate, so very fortunate, to have a teacher who is a perfected one, a fully awakened Buddha! I’m so fortunate, so very fortunate, to have gone forth in a teaching and training so well explained! I’m so fortunate, so very fortunate, to have spiritual companions who are ethical and of good character.”

Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, không xa Tôn giả Samiddhi, Ác ma hét lên tiếng hét to lớn, rùng rợn, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Atha kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya yenāyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato samiddhissa avidūre mahantaṁ bhayabheravaṁ saddamakāsi, apissudaṁ pathavī maññe undrīyati.
And then Māra the Wicked, knowing what Samiddhi was thinking, went up to him and made a terrifyingly loud noise close by him. It seemed as if the earth was shattering.

Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
Atha kho āyasmā samiddhi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno āyasmā samiddhi bhagavantaṁ etadavoca:
Then Samiddhi went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. 

—Bạch Thế Tôn, con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, trong khi con Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi các vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!” Khi ấy, bạch Thế Tôn, không xa con, một tiếng hét to lớn rùng rợn khởi lên, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
“idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre appamatto ātāpī pahitatto viharāmi. Tassa mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me satthā arahaṁ sammāsambuddho. Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito. Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, avidūre mahābhayabheravasaddo ahosi, apissudaṁ pathavī maññe undrīyatī”ti.

—Này Samiddhi, không phải quả đất vỡ tung đâu. Ðó là Ác ma đã đến để làm mờ mắt Ông. Này Samiddhi, Ông hãy đến tại chỗ ấy và sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
“Nesā, samiddhi, pathavī undrīyati. Māro eso pāpimā tuyhaṁ vicakkhukammāya āgato. Gaccha tvaṁ, samiddhi, tattheva appamatto ātāpī pahitatto viharāhī”ti.
The Buddha said, “Samiddhi, that’s not the earth shattering. That’s Māra the Wicked come to pull the wool over your eyes! Go back to that same place, Samiddhi, and meditate, diligent, keen, and resolute.”

—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
“Evaṁ, bhante”ti
“Yes, sir,”

Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
kho āyasmā samiddhi bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
replied Samiddhi. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.

Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi tại chỗ ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, trong khi Tôn giả Samiddhi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta khi…, … và hành trì thiện pháp!”. Lần thứ hai, Ác ma biết được tư tưởng của Tôn giả Samiddhi…, … khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Dutiyampi kho āyasmā samiddhi tattheva appamatto ātāpī pahitatto vihāsi. Dutiyampi kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa …pe… dutiyampi kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya …pe… apissudaṁ pathavī maññe undrīyati.
And for a second time Samiddhi was meditating in that same place, diligent, ardent, and resolute. And for a second time he had the same thought … and Māra made an earth-shattering noise.

Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: “Ðây là Ác ma” liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Atha kho āyasmā samiddhi māraṁ pāpimantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then Samiddhi addressed Māra the Wicked One in verse:

“Ta với lòng tín ngưỡng,
Bỏ gia đình, xuất gia,
Niệm tuệ ta tăng trưởng,
Tâm tư ta Thiền định.
Dầu Ông tạo sắc gì,
Không làm ta sợ hãi.”
“Saddhāyāhaṁ pabbajito,
agārasmā anagāriyaṁ;
Sati paññā ca me buddhā,
cittañca susamāhitaṁ;
Kāmaṁ karassu rūpāni,
neva maṁ byādhayissasī”ti.
“I went forth out of faith
from the lay life to homelessness.
My mindfulness and wisdom are mature,
my mind is serene in immersion.
Make whatever illusions you want,
it won’t bother me.”

Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo Samiddhi biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ samiddhi bhikkhū”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The mendicant Samiddhi knows me!” miserable and sad, vanished right there.