Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN5.5 Uppalavaṇṇā

Uppalavaṇṇāsutta

Nhân duyên Sāvatthi.
Sāvatthinidānaṁ.
At Sāvatthī.

Rồi Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇā vào buổi sáng đắp y … và đứng dưới gốc cây tala có trổ hoa.
Atha kho uppalavaṇṇā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā …pe… aññatarasmiṁ supupphitasālarukkhamūle aṭṭhāsi.
Then the nun Uppalavaṇṇā robed up in the morning … and stood at the root of a sal tree in full flower.

Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇā run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇā.
Atha kho māro pāpimā uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo yena uppalavaṇṇā bhikkhunī tenupasaṅkami; 
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Uppalavaṇṇā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from immersion,

Sau khi đến, Ác ma nói lên bài kệ này với Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇā:
upasaṅkamitvā uppalavaṇṇaṁ bhikkhuniṁ gāthāya ajjhabhāsi:
went up to her and addressed her in verse:

“Này nàng Tỷ-kheo-ni,
Dưới gốc cây tala,
Ðang nở nụ trăm hoa,
Nàng đến đứng một mình,
Nhan sắc Nàng tuyệt đẹp,
Không ai dám sánh bằng!
Tại đây Nàng đã đến,
Trong thế như vậy,
Nàng ngu dại kia ơi,
Không sợ cám dỗ sao?”
“Supupphitaggaṁ upagamma bhikkhuni,
Ekā tuvaṁ tiṭṭhasi sālamūle;
Na catthi te dutiyā vaṇṇadhātu,
Bāle na tvaṁ bhāyasi dhuttakānan”ti.
“You’ve come to this sal tree all crowned with flowers,
and stand at its root all alone, O nun.
Your beauty is second to none;
silly girl, aren’t you afraid of rascals?”

Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇā suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay là không phải người?”
Atha kho uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā etadahosi: “ko nu khvāyaṁ manusso vā amanusso vā gāthaṁ bhāsatī”ti?
Then the nun Uppalavaṇṇā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”

Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇā suy nghĩ: “Ðây là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định nên đã nói lên bài kệ đó.”
Atha kho uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā etadahosi: “māro kho ayaṁ pāpimā mama bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṁ bhāsatī”ti.
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from immersion!”

Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇā biết được: “Ðây là Ác ma”, liền trả lời với bài kệ:
Atha kho uppalavaṇṇā bhikkhunī “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi paccabhāsi:
Then Uppalavaṇṇā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:

“Trăm ngàn người cám dỗ,
Có đến đây như Ông,
Mảy lông ta không động,
Ta không gì sợ hãi.
Ác ma, ta không sợ,
Ta đứng đây một mình.
“Sataṁ sahassānipi dhuttakānaṁ,
Idhāgatā tādisakā bhaveyyuṁ;
Lomaṁ na iñjāmi na santasāmi,
Na māra bhāyāmi tamekikāpi.
“Even if 100,000 rascals like you
were to come here,
I’d stir not a hair nor panic.
I’m not scared of you, Māra, even alone.

Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng các Ông.
Ta đứng giữa hàng mi,
Ông không thấy ta được.
Esā antaradhāyāmi,
kucchiṁ vā pavisāmi te;
Pakhumantarikāyampi,
tiṭṭhantiṁ maṁ na dakkhasi.
I’ll vanish,
or I’ll enter your belly;
I could stand between your eyebrows
and you still wouldn’t see me.

Với tâm khéo khiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Ta thoát mọi trói buộc,
Ta đâu có sợ Ông?
Này Hiền giả Ác ma!”
Cittasmiṁ vasībhūtāmhi,
iddhipādā subhāvitā;
Sabbabandhanamuttāmhi,
na taṁ bhāyāmi āvuso”ti.
I’m the master of my own mind,
I’ve developed the bases of psychic power well.
I’m free from all bonds,
and I’m not afraid of you, sir!”

Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇā đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ uppalavaṇṇā bhikkhunī”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Uppalavaṇṇā knows me!” miserable and sad, vanished right there.