Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

SN6.2 Cung Kính

Gāravasutta

Như vầy tôi nghe.
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.

Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelā trên bờ sông Neranjarā, dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhamūle paṭhamābhisambuddho.
At one time, when he was first awakened, the Buddha was staying in Uruvelā at the root of the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.

Và Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật là khó khăn, sống không có cung kính, không có vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn”.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “dukkhaṁ kho agāravo viharati appatisso, kaṁ nu khvāhaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyan”ti?
Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “It’s unpleasant to live without respect and reverence. What ascetic or brahmin should I honor and respect and rely on?”

Rồi Thế Tôn, suy nghĩ
Atha kho bhagavato etadahosi:
Then it occurred to him:

“Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giới uẩn cụ túc, tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ”.
“aparipuṇṇassa kho sīlakkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ. Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya attanā sīlasampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
“I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of ethics, if it were incomplete. But I don’t see any other ascetic or brahmin in this world—with its gods, Māras, and Brahmās, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who is more accomplished than myself in ethics, who I should honor and respect and rely on.

“Với mục đích làm cho đầy đủ định uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác …”
Aparipuṇṇassa kho samādhikkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ. Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke …pe… attanā samādhisampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of immersion, if it were incomplete. But I don’t see any other ascetic or brahmin … who is more accomplished than myself in immersion …

“Với mục đích làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy đủ …”
Aparipuṇṇassa paññākkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ. Na kho panāhaṁ passāmi sadevake …pe… attanā paññāsampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of wisdom, if it were incomplete. But I don’t see any other ascetic or brahmin … who is more accomplished than myself in wisdom …

“ Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa được đầy đủ …”
Aparipuṇṇassa kho vimuttikkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ. Na kho panāhaṁ passāmi sadevake …pe… attanā vimuttisampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of freedom, if it were incomplete. But I don’t see any other ascetic or brahmin … who is more accomplished than myself in freedom …

“Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát tri kiến uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, giữa loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giải thoát tri kiến uẩn tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ”.
Aparipuṇṇassa kho vimuttiñāṇadassanakkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ. Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya attanā vimuttiñāṇadassanasampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of the knowledge and vision of freedom, if it were incomplete. But I don’t see any other ascetic or brahmin in this world—with its gods, Māras, and Brahmās, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who is more accomplished than myself in the knowledge and vision of freedom, who I should honor and respect and rely on. 

“Với pháp này, Ta đã chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ pháp này”.
Yannūnāhaṁ yvāyaṁ dhammo mayā abhisambuddho tameva dhammaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyan”ti.
Why don’t I honor and respect and rely on the same Dhamma to which I was awakened?”

Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi. 
Then Brahmā Sahampati knew what the Buddha was thinking. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the Brahmā realm and reappeared in front of the Buddha.

Rồi Phạm thiên Sahamapati đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
Atha kho brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
He arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said:

—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị ấy sẽ thành A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy sẽ cung kính, tôn trọng và sẽ sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng trong thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác cũng cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp.
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata. Yepi te, bhante, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tepi bhagavanto dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihariṁsu; yepi te, bhante, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā tepi bhagavanto dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharissanti. Bhagavāpi, bhante, etarahi arahaṁ sammāsambuddho dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharatū”ti.
“That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! All the perfected ones, the fully awakened Buddhas who lived in the past honored and respected and relied on this same teaching. All the perfected ones, the fully awakened Buddhas who will live in the future will honor and respect and rely on this same teaching. May the Blessed One, who is the perfected one, the fully awakened Buddha at present, also honor and respect and rely on this same teaching.”

Phạm thiên Sahampati nói như vậy, sau khi nói như vậy, lại nói thêm như sau:
Idamavoca brahmā sahampati, idaṁ vatvā athāparaṁ etadavoca:
This is what Brahmā Sahampati said. Then he went on to say:

“Chư Phật thời quá khứ,
Chư Phật thời vị lai,
Và đức Phật hiện tại,
Ðoạn sầu muộn nhiều người.
“Ye ca atītā sambuddhā,
ye ca buddhā anāgatā;
Yo cetarahi sambuddho,
bahūnaṁ sokanāsano.
“All Buddhas in the past,
the Buddhas of the future,
and the Buddha at present—
destroyer of the sorrows of many—

Tất cả các vị ấy,
Ðã, đang và sẽ sống,
Cung kính và tôn trọng,
Pháp chơn chánh vi diệu,
Pháp nhĩ là như vậy,
Ðối với chư Phật-đà.
Sabbe saddhammagaruno,
vihaṁsu viharanti ca; 
Tathāpi viharissanti,
esā buddhāna dhammatā.
respecting the true teaching
they did live, they do live,
and they also will live.
This is the nature of the Buddhas.

Do vậy, muốn lợi ích,
Ước vọng làm Ðại nhân,
Hãy cung kính, tôn trọng
Pháp chơn chánh vi diệu,
Hãy ghi nhớ giáo pháp,
Chư Phật Chánh Ðẳng Giác.”
Tasmā hi attakāmena, 
mahattamabhikaṅkhatā;
Saddhammo garukātabbo,
saraṁ buddhāna sāsanan”ti.
Therefore someone who cares for their own welfare,
and wants to become the very best they can be,
should respect the true teaching,
remembering the instructions of the Buddhas.”