WikiDhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, 
Bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

SN 42.3 Chiến Binh

Kinh Tương Ưng 42.3
Saṁyutta Nikāya 42.3

1. Phẩm Thôn Trưởng
1. Gāmaṇivagga

Chiến Binh
Yodhājīvasutta

Rồi thủ lĩnh Chiến Binh* đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thủ lĩnh chiến binh bạch Thế Tôn:
Atha kho yodhājīvo gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho yodhājīvo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:

“Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến binh, nói rằng:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ yodhājīvānaṁ bhāsamānānaṁ:

‘Vị chiến binh nào trong chiến trường, hăng say, tinh tấn; do hăng hay tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại; vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên (tên là Sarājita)’.
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.

Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?”
Idha bhagavā kimāhā”ti?

“Thôi vừa rồi, này thủ lĩnh chiến binh. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”.
“Alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.

Lần thứ hai …
Dutiyampi kho …pe…

Lần thứ ba, thủ lĩnh chiến binh bạch Thế Tôn:
tatiyampi kho yodhājīvo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:

“Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến binh, nói rằng:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ yodhājīvānaṁ bhāsamānānaṁ:

‘Vị chiến binh nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên (tên là Sarājita)’.
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.

Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?”
Idha bhagavā kimāhā”ti?

“Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: ‘Thôi vừa rồi, này thủ lĩnh chiến binh. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này’.
“Addhā kho tyāhaṁ, gāmaṇi, na labhāmi: ‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’ti.

Tuy vậy, Ta sẽ trả lời.
Api ca tyāhaṁ byākarissāmi.

Này thủ lĩnh chiến binh, đối với chiến binh nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn, tâm của vị ấy trước đó phải có những ý nghĩ thấp kém, ác ý, ác nguyện như sau:
Yo so, gāmaṇi, yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tassa taṁ cittaṁ pubbe gahitaṁ dukkaṭaṁ duppaṇihitaṁ:

‘Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!’, hay: ‘Mong họ chớ có tồn tại!’ Do vị ấy hăng hái, tinh tấn như vậy, nếu vị ấy bị người khác tàn sát, đánh bại, thời người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào địa ngục (tên là Sarājita).
‘ime sattā haññantu vā bajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesuṁ iti vā’ti. Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti; so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajito nāma nirayo tattha upapajjatīti.

Nếu người ấy có tà kiến như sau: ‘Vị chiến binh nào giữa chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên (tên là Sarājita)’.
Sace kho panassa evaṁ diṭṭhi hoti: ‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti,

Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến này, này thủ lĩnh chiến binh, Ta nói rằng, người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: Một là địa ngục, hai là súc sanh”.
sāssa hoti micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhikassa kho panāhaṁ, gāmaṇi, purisapuggalassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi— nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā”ti.

Khi được nói vậy, vị thủ lĩnh chiến binh phát khóc, rơi nước mắt.
Evaṁ vutte, yodhājīvo gāmaṇi parodi, assūni pavattesi.

“Chính vì vậy, này thủ lĩnh chiến binh, Ta không chấp nhận và nói: ‘Thôi vừa rồi, này thủ lĩnh chiến binh. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này’.”
“Etaṁ kho tyāhaṁ, gāmaṇi, nālatthaṁ: ‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’”ti.

“Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;

Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư, các chiến binh thuở trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn con lầm lạc, nói rằng:
api cāhaṁ, bhante, pubbakehi ācariyapācariyehi yodhājīvehi dīgharattaṁ nikato vañcito paluddho:

‘Ai là người chiến binh giữa các chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên (tên là Sarājita)’.”
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’”ti.

“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … Từ nay cho đến mệnh chung con trọn đời quy ngưỡng!”
“Abhikkantaṁ, bhante …pe… ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.

Tatiyaṁ.