Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Cảm Giác Dễ Chịu Thiện (Hỷ Lạc Thiện)

Pháp thoại Thiền Sư Mahasi

Biên tập Anh Ngữ Tỷ kheo Pesala

Dịch Việt Dhannapālaka

Hỷ lạc thiện đã được thuyết giảng trong cùng một bài kinh rằng: Khi nhận biết được đặc tánh vô thường, sự hoại diệt của vật chất (sắc), hành giả biết là tất cả vật chất mà mình đã thấy trước đây cũng như bây giờ đều là đối tượng của vô thường (anicca) và khổ (dukkha). Tuệ minh sát này làm sanh khởi hỷ lạc, và hỷ lạc này xuất hiện từ sự mong muốn thoát khỏi trói buộc của ái dục.

Đó là một phần được dạy trong bài kinh. Chủ giải nói thêm là hành giả có được hỷ lạc bởi hành giả ấy đạt được tuệ giác về vô thường, … đây là kết quả chánh niệm trong các đối tượng giác quan (sáu trần). Loại hỷ lạc như vậy là thiện, là đáng mong muốn.

Chú giải mô tả bốn loại hỷ như sau:

1. Hỷ lạc do từ bỏ những công việc thế gian,

2. Hỷ lạc liên quan đến thực hành thiền minh sát,

3. Hỷ lạc nhờ sự quán tưởng về Ân Đức Phật, v.v., và

4. Hỷ lạc do an trú trong sơ thiền, v.v.

Một số người có được hỷ lạc khi họ nghĩ đến việc họ từ bỏ những công việc thế gian, xuất gia, thực hành giới luật tỳ kheo, thiền định, v.v. Cảm giác hỷ lạc cũng phát sanh khi họ nghe một bài Pháp thoại hoặc khi họ đến một trung tâm thiền để thực hành thiền minh sát. Hỷ lạc này là thiện, vì nó tách rời khỏi cuộc sống thế tục.

Hỷ lạc tùy thuộc vào tuệ giác, có thể là hỷ lạc phát sanh trong khi hành giả đang chánh niệm. Đặc biệt hỷ lạc mạnh nhất lại là loại hỷ lạc liên quan đến tuệ sanh diệt (udayabbaya-ñāṇa).

Hỷ lạc mà chúng ta có được khi quán tưởng Ân Đức Phật, v.v…, là điều hiển nhiên. Các chú giải nói rằng hỷ lạc phát sanh khi có sự tập trung (định tâm) vào sáu đối tượng quán tưởng, đó là: niệm Ân Đức Phật, niệm Ân Đức Pháp, niệm Ân Đức Tăng, niệm Giới, niệm Bố Thí, niệm Thiên; thực hành như vậy có thể mang lại cho hành giả sự hiểu biết và kết quả trên con đường tu tập. Nếu hành giả ghi nhận, quán chiếu về sự đoạn diệt và chấm dứt của hỷ (pīti) phát sanh từ sáu cách quán tưởng trên, hành giả có thể chứng đắc luôn đạo quả A-la-hán. Pīti có nghĩa là hỷ và hỷ này sanh khởi từ sáu đối tượng: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên là hỷ thiện. Cũng vậy, hỷ dựa trên ba thiền-na (jhānas) hay cận định (upacāra-samādhi) là hỷ thiện.

Trong bốn hạng xuất gia, gia nhập vào Tăng Chúng có nghĩa là rời khỏi bổn phận gia đình. Hành giả thực hành thiền minh sát (vipassanā) cũng phải xa lìa sự dính mắc vào các đối tượng của dục lạc. Vì vậy, chú giải Itivuttaka có nói hình tướng xuất gia, bậc chứng sơ thiền (jhāna), bậc thấy được niết bàn (nibbāna), hành giả đang hành thiền minh sát (vipassanā) và tất cả các trạng thái của thiện, đều được gọi là xuất gia (nekkhamma). Hỷ lạc biểu lộ qua suy nghĩ (suy) và quán chiếu (sát) có hai loại: an/lạc (sukha) liên quan đến cận định (upacāra-samadhi) và an/lạc liên quan đến sơ thiền. Như đã nói ở phần trước, trong thế gian có rất hình thức hỷ lạc khác nhau như: hỷ lạc khi được xuất gia, hỷ lạc do tu tập minh sát, hỷ lạc do niệm tưởng Ân Đức Phật, … Lại nữa, còn có bốn loại hỷ lạc siêu thế liên quan đến bốn con đường chứng đắc sơ thiền.

Hỷ lạc không liên quan đến suy nghĩ (tầm) và quán chiếu (tứ) hay còn gọi là suy và sát (vitakka-vicāra) còn cao hơn những hỷ lạc đã nêu trên. Đây là đặc tánh của nhị thiền; được biểu lộ bằng hỷ (pīti), an/lạc (sukkha), và nhất tâm (ekaggatā). Và đặc tánh của tam thiền, được biểu lộ bằng an/lạc và nhất tâm. Hỷ lạc thiền định như vậy là hỷ lạc thế gian. Hỷ lạc sanh khởi từ bốn đạo siêu thế và từ nhị thiền, từ tam thiền không có tầm và tứ, do đó mới gọi là thiện. Hỷ lạc của nhị thiền và tam thiền vượt trội hơn nhiều so với hỷ lạc của sơ thiền hay hỷ lạc phát sanh từ những tư tưởng thiện trong cõi dục giới; cũng vậy, hỷ lạc của tuệ minh sát là kết quả của sự chú tâm vào hỷ lạc của nhị thiền và tam thiền.

Một cuộc đàm luận về những hỷ lạc này có hoặc không có tầm và tứ (suy và sát), chủ đề này vượt tầm hiểu biết của những người ít biết về kinh điển. Vấn đề này chỉ có những vị đắc thiền mới có thể hiểu rốt ráo. Theo chú giải, khi Đức Vua Trời Sakka hỏi Phật: làm sao để vượt qua tham ái (taṇhā), ngã mạn (māna) và tà kiến (diṭṭhi), đồng nghĩa với việc vị ấy đang hỏi về cách thực hành tuệ giác trên con đường cao thượng. Đức Phật nhấn mạnh đến cảm giác hỷ lạc thiện, cảm giác không hài lòng thiện và cảm giác trung tính thiện như một cách chữa bệnh. Những ai chưa giác ngộ có thể khó hiểu câu trả lời này, nhưng câu trả lời của Đức Phật có liên quan đế câu hỏi của Đức Vua Trời Sakka.

Đối với chư thiên, tâm rõ ràng hơn vật chất (danh rõ ràng hơn sắc), và trong các yếu tố của tâm, thọ (cảm giác) rõ ràng hơn các yếu tố khác. Vì vậy, Đức Phật bảo Vua Trời Sakka hãy quán chiếu các cảm thọ (vedanā) của mình. Trong nhiều lời dạy của Đức Phật về thiền minh sát, việc quán chiếu vật chất (thân hay sắc) được ưu tiên hơn việc quán chiếu tâm. Điều này cũng đúng với Sakkapañha Sutta, nhưng ở đây không đề cập đến vật chất (sắc) vì nó tiềm ẩn trong sự quán thọ.