Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Giới giữ gìn (thu thúc) các căn

Pháp thoại Thiền Sư Mahasi

Biên tập Anh Ngữ
Tỷ kheo Pesala

Dịch Việt
Dhannapālaka

Rồi thiên chủ Sakka hỏi Đức Phật làm thế nào một vị tỳ khưu nên thực hành giới thu thúc lục căn (indriyasaṃvara-sīla). Indriya có nghĩa là cai quản hay kiểm soát, và ở đây nó ám chỉ sáu giác quan chi phối: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu đối tượng này chi phối việc thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và suy nghĩ. Thiên chủ Sakka hỏi Đức Phật làm thế nào để bảo vệ những giác quan này.

Đức Phật phân biệt hai loại đối tượng giác quan: một loại nên chấp nhận và còn loại kia nên loại bỏ. Chúng ta nên chấp nhận những đối tượng giác quan làm suy giảm ác nghiệp và tăng trưởng thiện nghiệp; và chúng ta nên loại bỏ những đối tượng làm suy giảm thiện nghiệp và tăng trưởng ác nghiệp. Chúng ta cũng nên tránh nhìn vào những đối tượng gây ra sự thích thú, hay tức giận, v.v… Nếu không thể tránh khỏi, chúng ta nên bớt suy nghĩ lại và thực hành một số phương pháp thiền định; hoặc chúng ta nên ghi nhận sự thấy chỉ là thấy, dừng ngay việc để tâm trí đi lang thang và vượt khỏi sự nhận thức về bản chất của đối tượng. Đây là cách để ngăn cản các đối tượng bất thiện sanh khởi qua các giác quan (căn).

Tương tợ, chúng ta không nến chú ý đến bất thiện nghiệp. Mặt khác, chúng ta nên nghe Pháp, vì đó là nguồn gốc làm phát sanh thiện nghiệp. Bất kể âm thanh đó là gì, nếu chúng ta tập trung vào sự nghe và ghi nhận các đặc tánh vô thường của nó, v.v…, điều này sẽ góp phần vào sự phát triển của tuệ giác.

Sự ưa thích trong hương thơm thường là nhân sanh nghiệp xấu. Trong những trường hợp hiếm hoi, hương thơm làm sanh khởi thiện nghiệp, chẳng hạn, khi chúng ta ghi nhận hương thơm của những bông hoa được cúng dường trên chánh điện và có liên hệ đến tam tướng (vô thường, khổ, vô ngã). Về các vị cũng vậy, chúng ta không thể sống mà không ăn, nên chúng ta chỉ có thể tránh được nghiệp xấu này bằng cách chánh niệm trong ăn uống. Làm vậy sẽ giúp chúng ta tránh được sự ảnh hưởng của vị ngon của thực phẩm, và chúng ta cũng tránh luôn những loại thức ăn hoặc các loại nước gây say xỉn. Dù chúng ta được ăn những món ăn ngon, nhưng chúng ta vẫn có thể tránh được những phiền não nếu chúng không ham muốn hoặc không quan tâm đến những món ngon ấy. Người không chánh niệm không thể có sự kiểm soát hay thu thúc như vầy.

Sự xúc chạm nơi thân cũng dẫn đến bất thiện nghiệp. Không thể tránh khỏi mọi sự xúc chạm, nhưng chúng ta nên tránh càng nhiều càng tốt, sự tiếp xúc trong ái dục là nhân gây ra sự vừa, lòng thích ý và chấp lấy. Chúng ta nên thu thúc (chế ngự) các giác quan để tách rời thân và tâm của chúng ta, nhờ vậy mà coi nhẹ những cảm giác sướng hay khổ. Cách tốt nhất để thu thúc hoàn toàn, như đã đề trước đó, chính là ghi nhận đặc tánh vô thường, v.v… của tất cả các cảm giác sanh khởi từ sự xúc chạm. Thiện nghiệp phát sanh do chánh niệm tất cả các cảm giác xúc chạm đúng như trong Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta) đề cập. Phải tránh những suy nghĩ tách biệt (phân biệt) và lan man về đàn ông, đàn bà, kẻ thù, v.v.., vì nó dẫn đến tham ái, sân hận và những phiền não (ô nhiễm) khác. Nếu những suy nghĩ như vậy xuất hiện, chúng phải được thay thế bằng những đề mục thiền định về niệm Ân Đức Phật, niệm Giới, v.v…và ghi nhận sự sanh diệt của chúng.

Có nhiều bài kinh khác chứa đựng lời dạy của Đức Phật về sự chế ngự các căn (giác quan). Cụ thể là những dạy như sau: “Khi bạn nhìn thấy một người đàn ông hay một người đàn bà, bạn không nên nghĩ đến những đặc điểm trên cơ thể của họ. Bạn nên tránh để ý đến mắt, lông mày và những đặc điểm đặc biệt khác của cơ thể, điều đó chắc chắn sẽ làm bạn phát sanh phiền não.”

Đàn ông không nên nghĩ tổng thể về các đặc điểm trên cơ thể của một người nữ, hoặc các đặc điểm cụ thể như tóc, miệng, ngực, v.v…, và tương tợ như vậy, phụ nữ cũng nên tránh nghĩ về những đặc điểm đó của người đàn ông, vì suy nghĩ như vậy sẽ thúc đẩy sự phát triển của ái dục. Người hành thiền phải hoàn toàn chú tâm vào sự thấy, và tránh suy nghĩ về hình dạng tổng thể của một đối tượng, hay về các bộ phạn khác nhau trên cơ thể.

Đức Phật đã chỉ ra những điều ác phát sanh từ việc làm thiếu chánh niệm: “Ai không canh giữ con mắt của mình, thì mãi mãi bị tham và sân vây hãm,” nhưng sự chánh niệm này cần phải thực hành đúng cách. Thiền sinh phải tránh nhìn vào những đối tượng quen thuộc (dễ chịu hoặc khó chịu) mà khơi dậy những ý nghĩ bất thiện. Nếu thiền sinh tình cờ nhìn thấy chúng, thiền sinh không nên chú ý đến hình dạng, màu sắc, v.v…, và không nên lưu giữ những ấn tượng nào về chúng. Thiền sinh chỉ nên ghi nhận những gì được nhìn thấy và ghi nhớ tánh vô thường của chúng, v.v…

Điều tương tợ cũng có thể xảy ra đối với các giác quan khác, như: nghe, ngửi, nếm, sờ và suy nghĩ. Với sự phát triển mạnh của định, thiền sinh có thể tập trung vào tất cả các hiện tượng Thân – Tâm, và nhân ra đặc tánh vô thường, khổ và vô ngã của chúng, do đó, phiền não không còn chỗ để xuất hiện. Đây là cách tốt nhất để chế ngự, thu thúc các giác quan, và nhờ sự chế ngự các giác quan như vậy, hành giả có thể đạt được thánh đạo và thánh quả sau khi lần lượt liên tiếp trải qua các tầng tuệ minh sát. Việc chứng đắc đạo quả A-la-hán theo cách này được nhắc tới trong câu chuyện dưới đây của Trưởng Lão Mahātissa trong Thanh tịnh đạo.

Câu chuyện về Mahātissa Thera

Trong khi trưởng lão Mahātissa đang trên đường đến Anurādhapura để khất thực, ngài gặp một phụ nữ. Cô ấy cãi nhau với chồng rồi bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Cô ấy ăn vận đẹp, và khi nhìn thấy vị ấy, cô gái cười một nụ cười đầy dâm dật. Trước đây, trưởng lão thường suy tư về sự bất tịnh của thân người, nên khi nhìn người phụ nữ ấy, Ngài trưởng lão nhìn thấy một bộ xương gớm ghiếc. Do đó, ngài đắc sơ thiền, và nhờ thiền minh sát, ngài trở thành một vị A-la-hán. Người chồng sau khi đi theo người phụ nữ đã gặp vị trưởng lão và hỏi Ngài có nhìn thấy một người phụ nữ nào không. Trưởng lão trả lời rằng anh ta chỉ nhìn thấy một bộ xương đi dọc đường.

Trưởng lão hẳn đã thực tập quán thân bất tịnh trong một thời gian dài. Kinh nghiệm của Ngài là một bài học cho những thiền sinh chán nản vì không tiến bộ, vì họ sẽ đạt được tuệ giác đúng lúc nếu họ tiếp tục cố gắng.

Câu Chuyện Trưởng Lão Cittagutta

Sự chế ngự, thu thúc các giác quan do một trưởng lão khác thực hành cũng được trích dẫn trong Visuddhimagga.

Trưởng lão Cittagutta trú trong một hang động ở Tích Lan, trên tường cao có những bích họa kể về những câu chuyện tiền thân của Đức Phật (Jātaka). Vì thường xuyên thực hành thu thúc các giác quan, nên trưởng lão không bao giờ nhìn lên, và vì vậy ngài trưởng lão hoàn toàn không biết gì về những bức bích họa này. Một ngày nọ, một số vị tỳ khưu trẻ đến hang động. Họ bị mê hoặc bởi những bức tranh và nhận xét về vẻ đẹp của chúng với vị trưởng lão, nhưng vị ấy trả lời rằng mình chưa bao giờ chú ý đến chúng, mặc dù vị ấy đã sống trong hang hơn 60 năm. Phản ứng của Ngài là một lời quở trách gián tiếp đối với những vị khách, vì họ đã thiếu chánh niệm đối với đôi mắt của mình.

Gần cửa hang cũng có một cây lim. Vị trưởng lão chưa bao giờ ngước nhìn nó nên Ngài chỉ biết rằng hoa đang nở rộ khi vị ấy nhìn thấy những cánh hoa nằm trên mặt đất. Nghe tin về sự linh thiêng của trưởng lão, nhà vua đã mời Ngài vào cung điện, nhưng dù được mời nhiều lần, Ngài trưởng lão vẫn từ chối vào thăm nhà vua. Do đó, nhà vua đã cấm các Bà mẹ cho con bú trong ngôi làng nơi trưởng lão đi khất thực vào buổi sáng. Do bởi lòng trắc ẩn đối với những đứa trẻ sơ sinh nên Ngài không vào cung. Sau khi lệnh cấm được vua ban hành, ngài Trưởng Lão cuối cùng đã đến cung điện. Nhà vua và hoàng hậu tỏ lòng kính trọng trưởng lão và Ngài chúc phúc cho họ lần lượt rằng: “Chúc nhà vua được hạnh phúc!” Khi các vị tỳ khưu trẻ hỏi Ngài tại sao Ngài luôn nói “Chúc nhà vua được hạnh phúc!”, cho dù Ngài nói với nhà vua hay hoàng hậu, vị trưởng lão trả lời rằng Ngài không để ý đó là nhà vua hay hoàng hậu. Đây là bài học cho những ai tu tập chế ngự các giác quan.

Điều quan trọng nhất là tránh những cảnh tượng làm nảy sinh phiền não, và nếu không thể tránh được, hãy quán chiếu những bất tịnh của chúng hoặc ghi nhận đơn giản là thấy. Ở đây chúng ta nên ghi nhớ câu trả lời của Đức Phật cho Tôn giả Ānanda, vào đêm trước ngày nhập Niết bàn của ngài, khi ngài hỏi một tỳ khưu nên cư xử như thế nào đối với phụ nữ. Đức Phật dạy rằng một Tỳ kheo nên tránh gặp phụ nữ, và nếu không thể tránh được thì không nên nói chuyện với họ. Nếu vị ấy không thể tránh nói chuyện với họ, thì vị ấy nên lưu tâm và coi người phụ nữ đó như mẹ, chị gái hoặc con gái của mình, tùy theo độ tuổi của cô ấy.

Đây là pháp tu đầu tiên được gợi ý trong Bhāradvāja Sutta 1S.iv. pp.110–112. của Saṃyuttanikāya để chế ngự ham muốn trong ái dục. Pháp tu thứ hai được đề cập là quán chiếu về sự bất tịnh của thân người. Pháp tu thứ ba là chế ngự, thu thúc các giác quan (căn).

Lời dạy của Đức Phật cũng áp dụng cho các đối tượng giác quan khác. Chúng ta nên tránh nghe những âm thanh như các bài hát, v.v., những âm thanh khơi dậy phiền não. Nếu chúng ta không thể tránh chúng, chúng ta nên đơn giản ghi nhận là nghe. Những lời dạy này được Đức Phật thuyết cho Thiên Chủ Sakka và các vị Thần khác, điều này cho thấy chánh niệm là yếu tố rất cần thiết, luôn đến cả các vị tỳ khưu và các thiền sinh. Chư Thiên thường đắm chìm trong những thú vui ái dục và vì vậy họ cần phải thu thúc các giác quan của mình càng nhiều càng tốt. Điều tương tợ cũng có thể xảy ra đối với các cư sĩ tại gia khi họ giữ Bát Quan Trai Giới (Uposatha) hay thực hành thiền định.

Hương thơm của hoa, nước hoa, v.v.., làm cho phiền não phát sanh nên được ghi nhận theo cách tương tợ. Thức ăn mà thiền sinh dùng sau khi đã suy xét cẩn thận (rằng người ta ăn không phải vì thích thú mà để bảo vệ sức khoẻ) cũng vậy. Cũng cần phải tránh những cảm giác về vị và xúc chạm dẫn đến phiền não, và nếu không thể tránh khỏi, chúng cũng nên được ghi nhận theo cách tương tợ. Ghi nhận sự bước đi, ngồi, v.v…, toạ thành sự chánh niệm trong các cảm giác xúc chạm.

Theo Chú giải, sự thực hành của một thiền sinh (nesajjika-dhutaṅga) là theo đuổi cái thiện liên quan đến cảm giác xúc chạm. Đó là thực hành khổ hạnh không bao giờ nằm mà luôn luôn trong tư thế ngồi, ngay cả khi ngủ, điều mà một số thiền sinh thực hiện. Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahākassapa và các đệ tử ưu tú khác của Đức Phật đã thực hành nó trong thời gian dài, từ 12 năm đối với Tôn giả Rāhula đến 120 năm đối với Tôn giả Mahākassapa. Vì các vị ấy là bậc A-la-hán, nên mục tiêu của các Ngài không phải là để đạt được công đức, mà là để làm gương cho hậu thế.

Thiền sinh nên kiên nhẫn ghi nhận những điều thiện liên quan đến cảm giác xúc chạm trong khi thực hành thiền minh sát, giữ cho mình chánh niệm về các đối tượng giác quan thiện. Khi cảm thấy những cảm giác khó chịu trong cơ thể, thiền sinh không nên bồn chồn, mà nên thực hành sự nhẫn nại càng nhiều càng tốt, và tiếp tục quán chiếu, ghi nhận những cảm giác đó theo đúng với lời dạy trong Kinh Đế Thích Sở Vấn (Sakkapañha Sutta).

Hơn nữa, thiền sinh không nên nghĩ đến bất cứ điều chi có thể làm phát sanh tham ái hay sân hận; thiền sinh phải thu thúc không nên làm như vậy, không chỉ đối với các đối tượng tâm hay tư tưởng xảy ra với thiền sinh trong hiện tại, mà còn đối với những đối tượng thuộc về quá khứ và tương lai nữa. Thiền sinh nên ghi nhận và loại bỏ.

Sự tự thu thúc của ba vị trưởng lão

Bản chú giải đề cập đến câu chuyện về ba vị trưởng lão mà chúng ta nên noi theo trong sự nỗ lực loại bỏ những ý nghĩ bất thiện và thực hành chánh niệm. Vào ngày đầu tiên của mùa an cư, các vị đã khuyên nhủ nhau và cam kết rằng họ sẽ không có tư tưởng ái dục hay sân hận trong suốt ba tháng. Vào ngày Pavāraṇā, đánh dấu sự kết thúc của mùa an cư, vị tỳ khưu lớn tuổi nhất hỏi vị tỳ khưu trẻ nhất là làm cách nào để kiểm soát tâm của mình trong suốt thời gian đó. Pavāraṇā là một buổi lễ, trong đó một vị tỳ khưu mời một vị khác chỉ ra lỗi lầm của mình hoặc bất kỳ vi phạm nào đối với các quy tắc của tu viện mà vị ấy đã vô tình phạm phải trong thời gian an cư. Vị tỳ khưu trẻ nói rằng vị ấy đã không cho phép tâm trí của mình rời khỏi tu viện mà đã giam giữ nó trong tu viện.

Bằng cách này, vị ấy muốn nói rằng nếu tâm trí vị ấy đi lạc hướng trong khi thiền định, vị ấy sẽ giới hạn tâm trong tu viện, để vị ấy không bao giờ nghĩ đến bất cứ điều gì bên ngoài tâm. Thành tựu của vị tỳ khưu thực sự đáng khen ngợi, vì thực tế mà nói, những thiền sinh không có sự kiểm soát vững chắc đối với tâm trí của họ, trước khi họ phát triển sự định tâm. Thiền sinh không thể ngăn tâm mình lang thang (phóng tâm) khi được yêu cầu thực hành chánh niệm.

Khi vị tỳ khưu lớn tuổi hỏi vị tỳ khưu thứ hai câu hỏi tương tự, vị tỳ khưu nói rằng mình thậm chí không cho phép tâm trí của mình rời khỏi phòng. Vì vậy, khả năng tập trung (định tâm) của vị ấy đã phát triển tốt hơn so với khả năng của vị tỳ khưu trẻ.

Sau đó, hai vị tỳ khưu trẻ hơn hỏi vị lớn tuổi nhất rằng Ngài đã kiểm soát được tâm trí của mình đến mức nào. Vị trưởng lão trả lời rằng Ngài chưa cho phép tâm mình rời khỏi thân và tâm của chính mình. Điều này cho thấy rằng Ngài chỉ giới hạn sự chú ý của mình vào các hiện tượng tâm-vật lý phát sanh ở sáu giác quan (sáu căn) trong mỗi khoảnh khắc nhìn, nghe, v.v… Khả năng tập trung (định tâm) của vị trưởng lão là ấn tượng nhất – có lẽ Ngài là một vị A-la-hán. Mức độ kiểm soát tâm trí mà cả ba vị trưởng lão đã đạt được, thực sự là bài học khuyến khích cho những ai thực hành chánh niệm.

Bản chú giải tán thán việc quán chiếu các đối tượng của tâm cùng với tâm từ (mettā), v.v…, vì vậy chúng ta nên trau dồi tâm từ và nói rằng, “Nguyện cho tất cả chúng sinh thoát khỏi nguy hiểm”, v.v… Hơn nữa, vì Chú giải nói “mettā, v.v…,” nên có thể giả định rằng tất cả các đối tượng của tâm nên được quán chiếu, ghi nhận để có trí tuệ minh sát. Tóm lại, bất kỳ hình thức quán Vipassanā nào cũng đáng khen ngợi vì nó có nghĩa là tích lũy thiện nghiệp.

Satipaṭṭhāna: Một đống lớn nghiệp thiện

Trong nhiều loại quán chiếu, Đức Phật mô tả Tứ Niệm Xứ là tổng thể của tất cả các thiện nghiệp. Bố thí thường xuyên hoặc sống một đời sống đạo đức (có Giới hạnh) tốt đẹp, có nghĩa là tích lũy nhiều thiện nghiệp. Tuy nhiên, cho dù là người có đạo đức tốt, thỉnh thoảng vẫn có thể bị những tư tưởng không phù hợp quấy nhiễu, và đương nhiên không thể suốt ngày suốt đêm mà làm việc từ thiện hay trì giới nghiêm nhặt được. Vì vậy, thật không đúng khi gọi từ thiện hay trì giới là một đống nghiệp thiện lớn.

Mặt khác, thực hành thiền Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) đòi hỏi phải thường xuyên chánh niệm về mọi hành vi, cảm giác, suy nghĩ, khoảnh khắc nhìn, nghe, xúc chạm của cơ thể, v.v. Ngoại trừ trong khi ngủ, thiền sinh phải chánh niệm trong mọi khoảnh khắc. Nếu một người ghi nhận những cảm thọ của mình, v.v…, thì ít nhất một lần trong một giây, điều này có nghĩa là người đó tạo được một thiện nghiệp trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó. Một người tạo được 3.600 thiện nghiệp trong một giờ, vì vậy, nếu chúng ta loại trừ bốn giờ ngủ, thì một người sẽ đạt được công đức tương ứng với 72.000 thiện nghiệp trong một ngày. Công đức tích lũy vào mỗi khoảnh khắc ghi nhận ‘đi, đứng, nằm, ngồi’, v.v…. Thiền sinh có thể có được công đức ngay cả khi đang đi tiểu, vì vậy, thiền Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) chắc chắn là một đống thiện nghiệp lớn nên được trau dồi.


Ghi chú:

  • 1
    S.iv. pp.110–112.