Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Những cảm giác khó chịu cần tầm cầu hoặc tránh xa

Pháp thoại
Thiền Sư Mahasi

Biên tập Anh Ngữ
Tỳ khưu Pesala

Dịch Việt
Dhannapālaka

Những cảm giác khó chịu cần tầm cầu hoặc tránh xa

Bài kinh đề cập đến hai loại cảm giác khó chịu: cảm giác khó chịu dẫn đến ác nghiệp (hành động, lời nói hay ý nghĩ) và cảm giác khó chịu dẫn đến thiện nghiệp. Một cảm giác nên tránh, một cảm giác thì nên tầm cầu. Những cảm giác khó chịu dẫn đến thiện nghiệp thì rất đáng để tầm cầu, cảm giác khó chịu đó có lợi cho việc thực hành Thiền (jhāna), cho đạo quả giải thoát, tuy nhiên, chúng ta không nên cố gắng chủ động để tìm kiếm những cảm giác đó.

Bài kinh Saḷāyatanavibhaṅga Sutta cho chúng ta biết cảm giác khó chịu (thọ khổ) nào chúng ta nên tầm cầu và loại cảm giác khó chịu nào chúng ta nên tránh xa. Chúng ta thường đau khổ vì không có được những đối tượng dễ chịu (đáng hài lòng) thông qua các giác quan (căn), đó là các đối tượng đáng mong cầu trong hiện tại hoặc các đối tượng mà chúng ta không có được trong quá khứ. Chúng ta không vui khi phải đối mặt với những nguy hiểm, những đối tượng khó chịu, hoặc khi chúng ta lo lắng về những vấn đề gây ra đau khổ, những hiểm nguy trong tương lai, thậm chí đó là những ký ức đau khổ trong quá khứ. Những cảm giác khó chịu như vậy không mang lại lợi ích cho chúng ta. Chúng chỉ tạo ra đau khổ và những suy nghĩ bất thiện.

Những ai nuôi dưỡng cảm những giác khó chịu, họ sẽ không thể suy tưởng đến những đức tánh cao thượng của Đức Phật bằng sự nhiệt thành (tinh tấn) và tập trung (định), bởi vì họ quá nhiều sự phân tâm. Tâm an tịnh là yếu tố cần thiết cho việc suy tưởng đến những đức tánh cao thượng của Đức Phật. Những suy nghĩ bất thiện sẽ xuất hiện nếu vắng mặt tâm tĩnh lặng. Những cảm giác khó chịu này cũng là một chướng ngại cản trở các hành động thiện, nên chúng ta phải cố gắng vượt qua chúng. Tuy nhiên, một số người dường như đắm chìm trong sự đau khổ, thậm chí họ có thể không thích bạn nếu bạn khuyên họ chớ nên đau buồn trước sự ra đi của những người mà họ yêu thương. Ngược lại, họ có thể cảm ơn lời khuyên của bạn chỉ để biện minh cho sự đau buồn của chính mình.

Đức Phật dạy chúng ta nên nhớ lấy luật nhân quả, mọi thứ diễn ra tuỳ thuộc vào hành động của một người, hãy bình tĩnh và kham nhẫn với những điều bất hạnh đến với chính mình. Phương thuốc tốt nhất trong cơn khủng hoảng này là thực hành thiền định hay thiền minh sát. Nếu những điều buồn phiền, ưu sầu làm khổ chúng ta trong khi hành thiền, thì những trạng thái tâm bất thiện đó cần phải được ghi nhận, quán sát và loại bỏ. Đức Phật dạy rằng, phương pháp Niệm Xứ (satipaṭṭhāna) là cách duy nhất để giúp chúng ta vượt qua những ưu sầu và chấm dứt mọi đau khổ. Miễn là chúng ta giữ được tâm chánh niệm, như đã giải thích trong bài kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhāna), những cảm giác chán nản, phiền muộn sẽ biến mất ngay khi chúng ta tập trung, chú ý, ghi nhận vào những cảm giác đó.

Có rất nhiều điều trong cuộc sống khiến chúng ta không vui, không hài lòng, khó chịu, như: không có được điều mình mong cầu, không thành công, mất tiền bạc, tài sản, v.v… Rồi chúng ta sẽ bị trầm cảm nếu cứ mãi suy nghĩ về những cảm giác tiêu cực và những điều bất hạnh như vậy, chỉ có chánh niệm mới giúp chúng ta vượt qua được những cảm giác tiêu cực ấy. Phương pháp của chúng ta là quan sát bụng phồng bụng xẹp một cách liên tục, tư thế ngồi, v.v…

Việc thực hành chánh niệm rất quan trọng đối với Vua Trời Sakka, vì trước khi cái chết đến, vị ấy cảm thấy rất chán nản vì sắp mất đi niềm hạnh phúc và lạc thú cõi trời. Vì vậy, Đức Phật đưa ra lời dạy rất thực tế và rất đúng lúc.

Bây giờ tôi (Mahasi Sayadaw) sẽ chỉ ra một đoạn Pāḷi trong bài Kinh Saḷāyatanavibhaṅga Sutta về cảm giác khó chịu mà chúng ta nên tầm cầu.

“Sau khi quán sát và nhận ra các đặc tánh vô thường của sắc, sự tan biến và hoại diệt của sắc, hành giả đạt được một tuệ giác thấy được bản chất thật sự của đối tượng ấy (thấy sự vật như chúng đang là), tức là đặc tánh về vô thường, khổ và vô ngã của các đối tượng ấy. Và rồi hành giả sẽ có những ước mong đối với các mục tiêu trên con đường giải thoát, sự giải thoát cao thượng ấy sẽ nảy sanh trong tâm hành giả. Rồi hành giả mong chờ cái ngày mình sẽ “đặt chân” tới trú xứ của các Bậc Thánh (những vị đã đạt tới sự giải thoát cao thượng). Sự mong muốn giải thoát như vậy sẽ gây ra sự đau khổ, buồn phiền, và cảm giác khó chịu này được gọi là nekkhamassita-domanassa, đó là loại đau khổ hay buồn phiền (domanassa) do mong muốn được xuất gia.”

Những người quán sát, ghi nhận các hiện tượng vật chất – tâm khi chúng phát sanh từ sáu cửa giác quan và nhận ra đặc tánh vô thường của chúng, v.v…, và chỉ khi nào họ hiểu được Pháp Cao Thượng thì họ mới có thể tiếp tục hành thiền với hi vọng đạt được mục tiêu. Tuy nhiên, nếu hi vọng của họ không thành hiện thực trong thời gian tới, họ sẽ chán nản. Nỗi đau tinh thần này là do mong muốn xuất gia gây ra.

Vấn đề này có thể giải thích như vầy. Một hành giả thiếu kinh nghiệm về sự an tịnh, nhập định, hay sự tập trung khi bắt đầu thực hành việc ghi nhận, quán sát vật chất và tâm phát sanh từ sáu căn. Nhưng thật không dễ dàng để một người mới hành thiền thực tập theo quá trình này một cách triệt để. Người đó nên bắt đầu với bốn yếu tố chính được nhắc tới trong Thanh tịnh đạo, hoặc với yếu tố chuyển động phồng và xẹp của bụng, một phương pháp mà tôi (Mahasi Sayadaw) đang dạy tại trường thiền Mahasi.

Trong khi chánh niệm về sự phồng và xẹp của bụng, hành giả nên ghi nhận bất cứ suy nghĩ (ý định, mong muốn, v.v..); cảm giác (nóng, đau, v.v…) hoặc sự tiếp xúc với các đối tượng thông qua các giác quan (thấy, nghe, v.v…) đang diễn ra. Tuy nhiên, khi Định tâm yếu, bản chất thực sự của vật chất và tâm không thấy được rõ ràng. Với sự phát triển của Định, tâm trở nên tĩnh lặng, thanh tịnh và thoát khỏi các chướng ngại. Mọi suy nghĩ hoặc cảm xúc đều được ghi nhận và loại bỏ. Khi đó hành giả đã đạt tới giai đoạn gọi là tâm thanh tịnh (citta-visuddhi). Sau đó, hành giả sẽ thấy được sự phân biệt giữa tâm (cái biết) và vật chất (cái được biết). Đây là tuệ phân tích về vật chất và tâm hay tuệ phân biệt danh sắc (nāmarūpapariccheda-ñāṇa), và tri kiến thanh tịnh (diṭṭhivisuddhi). Tiếp tới, hành giả sẽ đạt tới tuệ phân biệt nhân duyên (paccayapariggaha-ñāṇa) dẫn đến đoạn nghi thanh tịnh (kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi).

Hành giả bây giờ hiểu rõ ràng là mọi hiện tượng đều  phải chịu sự chi phối của vô thường, khổ và vô ngã hay còn gọi là tuệ thẩm sát tam tướng (sammasana-ñāṇa), và nhanh chóng nhận ra sự tan biến ngay tức khắc của mọi thứ sanh khởi hay còn gọi là tuệ sanh diệt (udayabbaya-ñāṇa). Vào lúc này, mong ước được giải thoát sẽ sanh khởi và hành giả khao khát đạt được một giai đoạn nhất định nào đó trên con đường cao thượng dầu chỉ trong một khoảnh khắc. Nếu mong cầu này không được thành tựu, hành giả sẽ rơi vào trạng thái buồn bả và thất vọng, ngay lúc này hành giả sẽ trở thành con mồi của sự nghi ngờ và tuyệt vọng. Những cảm giác này có thể đóng vai trò như một động lực để cố gắng hơn nữa, nhưng đó là một sự trá hình – vì vậy không nên cố gắng tìm kiềm những điều ấy.

Dĩ nhiên, thật tốt đẹphoan hỷ hơn nếu hành giả đạt được sự tiến bộ, không có sự gián đoạn ngay từ đầu, và có được những hiểu biết cũng như những kinh nghiệm trong thiền tập. Vì vậy, bài kinh nhấn mạnh vào sự hoan hỷ hơn là nỗi buồn của sự xuất ly (từ bỏ). Ngược lại, đối với những hành giả không đạt được thành tựu gì trong thời gian mà họ mong muốn, thì sự chán nản xuất hiện là điều không thể tránh khỏi.

Tại trung tâm thiền của chúng tôi (Mahasi Sayadaw), chúng tôi giải thích tuần tự các giai đoạn của minh sát cho một số hành giả đủ điều kiện, để họ tự đánh giá kinh nghiệm của chính mình. Chúng tôi chỉ giảng dạy cho một số ít hành giả được chọn lọc, bởi những lời dạy này không phù hợp cho các trường hợp hành giả không có kinh nghiệm nào trong thiền tập. Nó chỉ có lợi cho những hành giả có kinh nghiệm, vì những kiến thức này sẽ thúc đẩy để các hành giả ấy nổ lực hơn nữa. Những hành giả mong muốn nghe những lời dạy từ chúng tôi mà không đạt được những kinh nghiệm thực tế trong thiền tập, họ sẽ bị chán nản, bởi những mong ước của họ chưa thành hiện thực. Sự chán nản này sẽ có lợi cho họ, vì nó khuyến khích họ phải nỗ lực nhiều hơn nữa, và đo đó, nó sẽ đưa họ đến những kinh nghiệm phù hợp với lời dạy của chúng tôi, và rồi họ có thể hoan hỷ tự đánh giá lại.

Một số hành giả cảm thấy chán nản vì lúc đầu định tâm của họ còn yếu, kết quả là họ nỗ lực gấp đôi và đạt được những hiểu biết khác thường. Vì vậy, hành giả có thể có được lợi ích từ sự tuyệt vọng của mình ở giai đoạn này. Theo chú giải, chúng ta nên đón chào sự tuyệt vọng phát sanh từ những mong cầu của chúng ta về xuất ly (từ bỏ), thiền định, tuỳ niệm (anussati) và thiền na (jhāna). Chúng ta nên giải thích rõ ràng về sự thất vọng hay buồn phiền vì không thể trở thành một vị tỳ khưu, không thể thực hành thiền định, nghe pháp, hoặc thậm chí đi Chùa. Đây là một ví dụ về nỗi buồn có lợi, câu chuyện về một tín nữ ở Tích Lan.

Cha mẹ cô gái đi chùa, bỏ con gái ở nhà vì cô ấy mang thai. Ngôi chùa cách đó không xa, cô nhìn thấy nó được thắp sáng và nghe các vị sư tụng kinh. Trái tim cô chùng xuống khi nghĩ đến nghiệp xấu đã ngăn cản cô đi cùng cha mẹ, nhưng sau đó cô vui mừng trước nghiệp tốt của những người hành hương ở đó. Niềm vui của cô biến thành khinh hỷ (ubbega-pīti), đột nhiên cô bay lên không trung và thấy mình đang ở trên bục của ngôi chùa. Như vậy, nỗi buồn có lợi của người tín nữ đã hỗ trợ mong ước tốt đẹp của cô ấy một cách kỳ diệu.

Chú giải về Kinh Sakkapañha trích dẫn câu chuyện về Tôn giả Mahāsiva như một minh họa về nỗi buồn tốt đẹp dẫn đến quả vị A-la-hán. Tôn giả Mahāsiva là một vị thầy vĩ đại có nhiều đệ tử, và những người thực hành thiền minh sát dưới sự hướng dẫn của ngài đều trở thành A-la-hán. Thấy vị thầy của mình chưa đạt được mục tiêu tối thượng, một trong những vị A-la-hán này hỏi thầy giảng cho vị ấy một bài Pháp. Tôn giả Mahāsiva trả lời rằng ngài không có thời gian để giảng Pháp, vì bận rộn cả ngày để trả lời các câu hỏi của các đệ tử, loại bỏ những nghi ngờ của họ, v.v.

Sau đó, vị tỳ khưu nói, “Thưa thầy, ít nhất thầy nên dành thời gian để suy tư về Pháp vào mỗi buổi sáng. Như tình hình hiện tại, thầy thậm chí không có thời gian để chết. Thầy là trụ cột cho người khác nhưng bản thân thầy lại không có chỗ dựa. Vì vậy, con không muốn học thầy nữa. Nói xong, vị ấy bay lên không trung rồi đi mất. Điều này khiến tôn giả Mahāsiva nhận ra rằng vị học trò đến đây không phải để học Giáo Pháp mà để cảnh báo Ngài về tính tự mãn. Vỡ lẽ, Ngài rời tu viện, ẩn cư ở một nơi hẻo lánh và hành thiền minh sát một cách tinh tấn. Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực bền bỉ và siêng năng của mình, Ngài không đạt được bất kỳ sự hiểu biết khác thường nào, thậm chí sau nhiều năm vị ấy cũng không đạt được mục tiêu của mình. Cuối cùng, vị ấy trở nên chán nản và bắt đầu khóc, một nữ thần xuất hiện và khóc theo. Vị trưởng lão hỏi tại sao nữ thần khóc và cô ấy trả lời rằng cô ấy hy vọng sẽ đạt được tuệ giác bằng cách khóc.

Điều này khiến trưởng lão tỉnh táo lại. Tự trấn tĩnh lại, ngài thực hành chánh niệm, và sau khi trải qua các giai đoạn giác ngộ liên tiếp trên thánh đạo, cuối cùng ngài đạt được đắc quả A-la-hán. Xét cho cùng, trong những hoàn cảnh thuận lợi, một hành giả có thể đạt được tuệ giác trong một thời gian ngắn. Thất bại ban đầu của trưởng lão, dù đã cố gắng hết sức, có thể là do những suy nghĩ lan man xuất phát từ sự học rộng của vị ấy.

Chính tan vỡ ảo tưởng đã thúc đẩy Tôn giả Mahāsiva nỗ lực hơn nữa trên con đường hành đạo là loại ưu phiền tốt đẹp mà chúng ta nên tầm cầu. Sakkapañha Sutta đề cập đến hai loại ưu sầu: một loại có suy nghĩ lan man và loại kia không có suy nghĩ, nhưng trên thực tế, mọi ưu phiền đều gắn liền với suy nghĩ, và chúng ta chỉ nói một cách ẩn dụ về loại ưu sầu không có suy nghĩ.

Nói tóm lại, đau khổ là bất thiện nếu nó bắt nguồn từ tham dục hoặc các vấn đề thế gian, và vì vậy chúng ta nên tránh những loại suy nghĩ dẫn đến nó. Nếu nỗi buồn khởi lên một cách tự nhiên, chúng ta không được nuôi dưỡng nó, mà nên tập trung tâm trí vào những đối tượng khác, và nó sẽ tự nó biến mất. Mặt khác, buồn phiền là tốt đẹp khi nó phát sinh từ những cố gắng để bước qua sự chán nản của chúng ta, để thúc đẩy đời sống nội tâm của chúng ta, chẳng hạn như nỗ lực của chúng ta để gia nhập Tăng Đoàn (Saṅgha), để đạt được những hiểu biết sâu sắc, v.v. Chúng ta nên tầm cầu những nỗi buồn như vậy vì nó có thể thúc đẩy chúng ta nỗ lực nhiều hơn và dẫn đến sự tiến bộ trên con đường cao thượng. Tuy nhiên, nó không nên được tìm kiếm một cách có chủ ý. Tốt nhất là trải nghiệm những niềm vui tốt đẹp trên con đường tiến tới sự Giải Thoát.

Trang chủ » Thiền Minh Sát » Thiền Sư Mahāsī (U Sobhana) » Những Câu Hỏi Của Đức Vua Trời Sakka » Những cảm giác khó chịu cần tầm cầu hoặc tránh xa