Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Những quan điểm khác biệt

Pháp thoại Thiền Sư Mahasi

Biên tập Anh Ngữ
Tỷ kheo Pesala

Dịch Việt
Dhannapālaka

Vua Trời Sakka rất biết ơn về bài giảng của Đức Phật. Trước khi đến gặp Đức Phật, Thiên chủ đã gặp một số tự cho mình là bậc trí giả và hỏi về giáo lý của họ, nhưng nhận thấy rằng họ có nhiều quan điểm khác nhau. Bây giờ Thiên chủ đã đạt đến tầng thánh đầu tiên (Bậc Thánh Nhập Lưu) sau khi nghe những lời dạy của Đức Phật,vị ấy biết được Giáo pháp chơn chánh, và do đó vị ấy cũng biết được Đức Phật là bậc chơn chánh và Tăng đoàn chơn chánh. Lúc này Thiên chủ đã thoát khỏi mọi nghi ngờ. Vị ấy không nói rõ ràng với Đức Phật về điều này, nhưng Thiên chủ ngụ ý nó trong câu hỏi tiếp theo của mình.

“Thưa Ngài, có phải tất cả những người tự gọi mình là ẩn sĩ và tỳ khưu đều có cùng quan điểm không? Có phải tất cả họ đều có cùng một đời sống đạo đức (cùng giới hạnh)? Có phải tất cả họ đều có cùng một mong muốn hoặc cùng một mục tiêu không?”

Tất nhiên, Thiên chủ Sakka biết câu trả lời cho những câu hỏi này, nhưng ngài chỉ hỏi như một khúc dạo đầu cho câu hỏi về sự khác biệt của chúng. Đức Phật trả lời câu hỏi thứ hai của ông như sau.

“Này Thiên chủ Sakka! Trên thế giới này, con người không có tính khí giống nhau. Tính khí của họ khác nhau. Suy nghĩ sai lầm, họ bám chặt vào những quan điểm phù hợp nhất với tính khí của họ. Họ nhấn mạnh rằng chỉ có quan điểm của họ là đúng và tất cả các quan điểm khác đều sai. Chính vì sự cố chấp của họ mà tất cả những người tự cho mình là bậc hiền triết và thánh nhân đều có những quan điểm khác nhau. Họ tận tâm tuân theo các hệ thống giá trị đạo đức khác nhau; họ có những mong muốn khác nhau và những mục tiêu khác nhau trong cuộc sống.”

Do tính khí khác nhau, mọi người khác nhau về khuynh hướng và sở thích của họ đối với màu sắc, âm thanh, quần áo, v.v. Tương tợ như vậy, họ nói về niềm tin mà họ đã chấp nhận trên cơ sở chấp trước và suy đoán của họ. Một số ấp ủ niềm tin vào sự bất tử của linh hồn. Họ nói rằng linh hồn hay còn gọi là bản ngã (atta) tồn tại mãi mãi và nó không bị hủy diệt như cơ thể thô thiển. Đây là niềm tin vĩnh cửu hay còn gọi là thường kiến (sassata-diṭṭhi). Niềm tin này có sức hấp dẫn mạnh mẽ, về cơ bản thì không có gì khác với các tôn giáo dạy rằng con người được tạo ra bởi Đức Chúa Trời hay Thượng Đế, và sau khi chết đi, những ai làm hài lòng Ngài sẽ được cứu rỗi trên thiên đàng, trong khi những ai không hài lòng với Ngài sẽ bị kết án vĩnh viễn. Sau đó là niềm tin đoạn diệt hay còn gọi là đoạn kiến (uccheda-diṭṭhi), vốn phủ nhận kiếp sống tương lai (vị lại) và nhấn mạnh vào sự diệt vong hoàn toàn của cá nhân sau khi chết (chết là hết). Đây là những giáo lý của các tôn giáo tuyên bố chơn lý của họ là đúng, là duy nhất và bác bỏ tất cả những giáo lý khác, xem đó là sai lầm. Sự cố chấp như vậy là nguyên nhân của sự khác biệt về niềm tin, nguyên tắc đạo đức, nguyện vọng và mục tiêu của cuộc sống.

Niềm tin vào sự vĩnh cửu bất diệt (thường kiến) và Phật Giáo

Theo Phật giáo, khi một người chết đi, người ấy sẽ được tái sanh, kiếp sống mới được hình thành do bởi Nghiệp mà người ấy đã tạo. Điều này đặt ra câu hỏi rằng liệu thuyết tái sanh của Phật giáo có giống với thường kiến hay không, nhưng lời dạy của Đức Phật rất khác xa với ý tưởng về một bản ngã vĩnh cửu. Phật giáo phủ nhận sự tồn tại của một thực thể tự ngã và chỉ công nhận quá trình liên quan đến sự sanh diệt không ngừng của mọi hiện tượng Thân và Tâm. Khi thức tái tục diệt, tâm hộ kiếp (bhavaṅga-citta) sanh khởi, tâm này cũng diệt liên tục. Với dòng đời luôn luôn trong trạng thái thay đổi liên tục này, tâm phản chiếu về hình sắc, âm thanh, v.v., phát sanh, và tâm phản chiếu này được tiếp nối bởi nhãn thức, nhĩ thức, v.v. Khi điều này chấm dứt, dòng đời lại tiếp tục diễn ra. Như vậy, hai dòng tâm hộ kiếp và tâm thường lưu chuyển luân phiên nhau. Vào lúc chết, tâm tử (cuti-citta) làm nhiệm vụ chấm dứt mạng sống, khoảnh khắc cuối cùng của dòng đời. Sự chấm dứt của tâm tử được gọi là sự chết bởi vì tiến trình của tâm và vật chất chấm dứt, không có sự khởi sinh của bất kỳ tâm thức mới nào.

Ngay sau khi thức chết chấm dứt, thức tái tục sanh khởi, do nghiệp của một người tạo là điều kiện, là nhân duyên. Thức tái sanh này đánh dấu sự khởi đầu của một kiếp sống mới. Vì vậy, theo đó, tái sanh không liên quan gì đến bất kỳ thực thể bản ngã nào hoặc sự chuyển đổi tâm và vật chất từ kiếp trước. Với sự chấm dứt của thức mới này, dòng đời hay sự sống lại tiếp tục, v.v… phát sanh, như trong kiếp trước. Chúng ta coi tiến trình tâm và vật chất này như một con người cụ thể nhưng nó không phải là hiện thân cho bất kỳ linh hồn hay thực thể bản ngã nào. Thực tế này có thể được nhận ra bởi những người đang thực hành thiền minh sát.

Đạo Phật không đề xuất chủ nghĩa trường tồn vì Phật Giáo dạy rằng tham ái dẫn đến tái sanh. Khi hành giả chứng đạo quả A-la-hán, vị ấy hoàn toàn thoát khỏi ái dục và các phiền não khác. Vị A-la-hán không dính mắc vào bất kỳ đối tượng giác quan nào, ngay cả khi sắp chết (tịch diệt), bởi vì vị ấy đã loại trừ được sự phát sanh của bất kỳ tiến trình mới nào của tâm và vật chất. Tuy nhiên, không có nghĩa là Phật giáo dạy chủ nghĩa đoạn diệt (uccheda-vāda), vì quan điểm của chủ nghĩa đoạn diệt là giả định trước một bản ngã tồn tại trong một chúng sinh – bản ngã đó là chủ thể của những trải nghiệm, tốt hay xấu. Đạo Phật bác bỏ ý tưởng về bản ngã và chỉ công nhận rằng có một tiến trình của tâm và vật chất. Khi vị A-la-hán qua đời, không phải bản ngã tiêu diệt mà là tiến trình của tâm và vật chất bị tiêu diệt. Sự diệt trừ này được thực hiện nhờ thực hành thiền minh sát, nó đảm bảo cho sự chấm dứt của tham ái tiếp diễn trong cuộc sống.

Mahāyāna (Đại Thừa hay Bắc Truyền) và Theravāda (Nguyên Thuỷ hay Nam Tông)

Hiện nay có bốn tôn giáo lớn của nhân loại. Sự khác biệt của những tôn giáo này là do tính cách đa dạng và quan điểm trái ngược giữa các tín đồ của mỗi tôn giáo. Có hai trường phái Phật giáo:

Theravāda (Phật Giáo Nguyên Thuỷ) và Mahāyāna (Phật Giáo Đại Thừa), hai trường phái này đã có những quan điểm khác nhau trong hơn 2.000 năm. Điều này là do các khuynh hướng khác nhau do các tín đồ của hai trường phái.

Giáo lý cơ bản của Phật giáo Đại thừa là tất cả chúng sinh đạt được sự giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ của luân hồi chỉ sau khi đạt được Phật quả. Là một vị A-la-hán (Thanh Văn) hay một vị Độc Giác Phật (Bích Chi Phật) không có nghĩa là giải thoát hoàn toàn. Sau khi thành Phật, hành giả Đại thừa không nhập Niết bàn một mình. Ngài chỉ tận hưởng sự bình an của Niết Bàn cùng với những chúng sinh khác, nghĩa là, sau khi tất cả những chúng sinh khác đã trở thành Phật thì Ngài mới nhập Niết-bàn.

Đây là một sự bác bỏ gián tiếp chủ nghĩa vị kỷ nhưng quan điểm này hoàn toàn không thể đứng vững.

Bởi vì, nếu chư Phật trì hoãn việc nhập niết bàn của mình và đợi cho đến khi tất cả chúng sinh khác thành tựu Phật quả, thì các Ngài sẽ sống ở đâu và sống như thế nào trong một thời gian dài như vậy? Côn trùng và các loài cấp thấp thì hằng hà sa số. Có phải chư Phật chờ đợi và chịu đựng già, bịnh và chết cho đến khi giải thoát hết tất cả chúng sanh?

Quan điểm này chẳng có ý nghĩa gì nhưng nó được một số người chấp nhận vì nó phù hợp với tính cách của họ.

Nó khác với giáo lý của Theravāda, đó là Giáo pháp thực sự dựa trên lời dạy của Đức Phật trong Kinh điển Pāḷi. Theo quan điểm này, trong số những hành giả đạt đến giai đoạn cuối cùng của thánh đạo, có những người mong muốn trở thành đệ tử thân cận của Đức Phật. Khi vị A-la-hán nhập Niết-bàn, tiến trình tâm và vật chất tạo điều kiện cho sự tái sinh bị chấm dứt, do đó, sự đau khổ của các Ngài trong luân hồi cũng bị chấm dứt. Các Ngài không cần chờ đợi bất cứ ai và các vị ấy không thể làm như vậy. Đây cũng là “định mệnh” của chư Độc giác và chư Phật Chánh đẳng Chánh giác. Quan điểm này khá hợp lý.

Những Phật tử Đại thừa đồng hóa Niết bàn của họ với cõi Cực lạc. Họ mô tả nó như một thiên đường, và nói rằng, như chư Phật, tất cả chúng sinh sống hạnh phúc ở đó mãi mãi, thoát khỏi già, bịnh và chết. Sukhāvatī về cơ bản không khác với cõi trời được tôn vinh bởi những người tin vào sự bất tử. Niềm tin này có lẽ dựa trên các bài viết của những người tìm cách truyền bá quan điểm trường tồn trong giới Phật tử.

Về sau, nhiều tông phái Đại thừa ra đời, cũng là do tính cách khác nhau của tín đồ.

Các Chú Giải cho chúng ta biết Nguyên Thủy chia thành mười tám bộ phái như thế nào1. Ở Miến Điện ngày nay cũng có những ý kiến khác nhau về giáo lý của Đức Phật. Không còn nghi ngờ gì nữa, Đức Phật đã nhấn mạnh đến Tứ diệu đếBát chánh đạo bao gồm Giới, Định và Tuệ; nhưng một số người khác nói rằng không cần thiết phải hành thiền minh sát, rằng họ có thể đi theo con đường giải thoát dễ dàng. Một số nữa coi đạo đức (giới luật) là không liên quan đến mục tiêu của Phật giáo, một quan điểm được chia sẻ bởi những người không quan tâm đến đạo đức (giới luật). Họ bày tỏ quan điểm như vậy bởi vì họ không chấp nhận lời dạy trong Kinh Đế Thích Sở Vấn (Sakkapañha Sutta) và các bài kinh khác.

Lời dạy của Đức Phật cho du sĩ khổ hạnh, Subhadda, trình bày một tiêu chí để quyết định rằng liệu có bất kỳ học thuyết nào thực sự là Giáo pháp chơn chánh để chinh phục được phiền não hay không. Ý chính của giáo lý, được tìm thấy trong Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahāparinibbāna Sutta), là không có học thuyết nào nếu thiếu bát chánh đạo có thể dẫn đến đạo quả nhập lưu và các giai đoạn khác của thánh đạo. Bát chánh đạo chỉ có trong Phật pháp, và do đó, chỉ có Pháp này mới khiến một người phàm nhân trở thành một vị Thánh Nhập Lưu, v.v… Chúng ta có thể đánh giá bất kỳ giáo lý nào theo tiêu chí này và nhờ đó chúng ta có thể biết liệu Giáo lý đó có phù hợp với lời dạy của Đức Phật hay không.

Tuy nhiên, thực tế là hầu hết mọi người chỉ chấp nhận những giáo lý phù hợp với khuynh hướng của họ. Có một số Phật tử cho rằng đạo đức (Giới) của họ là Đạo đức (giới) Cao thượng nếu họ coi những gì họ thực hành là Đạo đức (giới) Cao thượng. Những người khác chỉ muốn tận hưởng một cuộc sống như con người, chư thiên, v.v… Họ không thích thú với viễn cảnh tiến trình chấm dứt của tâm và vật chất. Một số người không muốn tái sanh trong cõi Phạm thiên, nơi không có dục lạc, bởi vì họ thích tái sanh trong dục giới hơn. Rồi, có một số người mong muốn đổi mới cả tâm và vật chất, trong khi những người khác chỉ muốn đổi mới một trong hai điều này. Tuy nhiên, những bậc trí giả, những người nhận ra những điều xấu xa của vòng luân hồi vô tận, họ tìm kiếm sự sự chấm dứt của cả tâm và vật chất.

Một số người tin vào hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng hoặc sự hủy diệt sau khi chết là định mệnh (số phận) của họ. Đối với một số người, mục tiêu tối cao là thế giới Asaññā (cõi vô tưởng) không nhận thức, mà họ tin là đã thoát khỏi mọi đau khổ. Nhưng cũng có người khác lại coi thế giới (cõi) vô sắc (arūpaloka) là mục tiêu cuối cùng của họ, trong khi những người khác nói rằng mục tiêu của họ là phân biệt rõ ràng giữa linh hồn hay bản ngã (atta) và sự phức hợp giữa thân-tâm. Những mục tiêu khác nhau này phụ thuộc vào tính cách khác nhau của những người theo đuổi chúng. Trên thực tế, mức cao thượng nhất của cuộc đời là Niết-bàn (nibbāna) của bậc A-la-hán, có nghĩa là sự chấm dứt hoàn toàn của dòng tâm thức và vật chất sau khi chết, đó là kết quả của sự tiêu diệt hoàn toàn các phiền não.

Mục tiêu cuối cùng

Thiên chủ Sakka hài lòng với câu trả lời của Đức Phật và hỏi một câu hỏi khác:

“Bạch Thế Tôn, những người được gọi là Sa-môn Phạm Chí (samaṇa-brāhmaṇa) có thực sự đạt được mục đích cuối cùng của họ không? Có bất kỳ sự chấm dứt nào cho những cố gắng của họ không? Họ có sống một cuộc sống thực sự cao quý không? Họ có thực sự biết được Giáo pháp tối thượng không?”

Ở đây, mục tiêu tối hậu, mục đích của sự cố gắng (iccantayogakkemi) và Pháp tối hậu (iccantapariyosana) đề cập đến là Niết Bàn. Đời sống cao thượng có nghĩa là thực hành thiền minh sát và con đường bát chánh đạo. Nói cách khác, với bốn câu hỏi này, Thiên chủ Sakka đã hỏi Đức Phật rằng liệu các ẩn sĩ và tỳ khưu có thực hành thiền minh sát và bát chánh đạo hay không, và liệu họ đã đạt được Niết bàn chưa.

Đức Phật trả lời phủ định. Theo Đức Phật, chỉ có những vị tỳ khưu nhờ tu tập con đường đưa đến đoạn diệt tham ái mới đạt được mục tiêu tối thượng là sự giải thoát, chấm dứt sự đấu tranh, sống đời sống cao thượng và đạt được Giáo pháp tối thượng.

Ở đây, các vị tỳ khưu được nói đến trong lời dạy của Đức Phật là chư Phật, chư Phật Độc giác và các vị A-la-hán. Vị A-la-hán là người đã đoạn trừ bốn phiền não hay lậu hoặc (āsava) làm sanh khởi một kiếp sống mới. Trên thực tế, các ngài đã nhổ bật gốc rễ các kiết sử (yoga)1Từ Pāli ‘yoga’ có hai nghĩa. Một nghĩa là ‘phấn đấu’, ‘đảm nhận’ hoặc ‘bổn phận’, còn nghĩa khác là ‘liên minh’, ‘sự ràng buộc’ hoặc ‘xiềng xích’. 7. S.i.228., đã đạt được mục tiêu tối hậu và Giáo pháp tối thượng, và sự chiến thắng cuối cùng của ngài là nhờ thực hành con đường cao thượng.

Những ai chưa tự giải thoát mình khỏi những kiết sử và thiên kiến qua bát chánh đạo thì còn lâu mới đến được Niết Bàn. Họ tiếp tục phải chịu tái sanh và đau khổ. Vì vậy, khi Phạm Thiên Baka (Baka Brahmā) mời Đức Phật đến nơi mà vị ấy coi là thiên đường vĩnh cửu của mình, Đức Phật bảo vị Phạm Thiên đừng ảo tưởng về cái chết của mình và đừng khao khát bất kỳ hình thức tồn tại nào.

Đức Phật nói: “Sau khi nhìn thấy sự nguy hiểm của tất cả các loại hình thức tồn tại (sanh hữu), cho dù đó là loài người, chư thiên, phạm thiên hay chúng sanh ở các cõi thấp… Ta không tán thán bất kỳ loại hình thức tồn tại (sanh hữu) nào, dù chỉ là chút ít. ”

Mọi hiện hữu đều phải chịu đau khổ. Sự đau khổ tồi tệ nhất tồn tại trong các cõi thấp hơn, tuy nhiên, sự tồn tại của con người cũng bị ảnh hưởng bởi sự đau khổ của tuổi già, bịnh tật và cái chết. Ngay cả chư thiên cũng phải đau khổ vì thất vọng trong mong cầu của chính họ, và trong thế giới phạm thiên, họ cũng không thoát khỏi đau khổ của suy nghĩ, lập kế hoạch và biến đổi không ngừng.

Đức Phật nói: “Ta đã thấy sự nguy hiểm của mọi hình thức tồn tại (sanh hữu); Ta cũng đã nhìn thấy con đường của những người muốn chấm dứt sanh hữu và do đó tìm kiếm sự đoạn tận của sanh hữu. Vì vậy, ta không tán thán sự sanh hữu, dù chỉ là chút ít.”

Nhận thức được những điều xấu xa trong luân hồi, một số bậc thiện trí đã trở thành những nhà tu khổ hạnh để tìm kiếm sự giải thoát, nhưng họ không biết đến Niết Bàn hay bát chánh đạo  là con đường dẫn đến đó. Một số chứng đắc Thiền Sắc Giới (rūpajhāna) và họ tin rằng mình sẽ tận hưởng được sự bất tử, vĩnh hằng trong cõi Phạm Thiên Sắc Giới (rūpavacarabrahmā), mục tiêu của Thiền (jhāna) như vậy. Đối với một số vị tu khổ hạnh, cuộc sống vĩnh cửu được cho là cõi Vô Tưởng (Asaññā) trong cõi Phạm Thiên Sắc Giới (rūpavacarabrahmā), trong khi những người khác, cuộc sống vĩnh cửu lại trong cõi Vô Sắc (arūpavacara). Vì vậy, những vị tu khổ hạnh này hài lòng với Thiền Sắc Giới (rūpajhāna) và Thiền Vô Sắc Giới (arūpajhāna) mà các vị ấy đã chứng đắc.

Trái với mong đợi của họ, những hành giả yogi này không bất tử trong thế giới phạm thiên, và họ trở lại (tái sanh lại) cõi dục giới của chư thiên hay loài người sau khi chết. Từ đó họ tiếp tục đi theo nghiệp của họ. Nếu quả của một ác nghiệp nào đó trổ, họ có thể rơi ngay vào các cõi thấp. Vì vậy, mặc dù họ đã tìm cách đoạn diệt, nhưng họ vẫn không đạt được mục tiêu cuối cùng của mình, và phải tiếp tục trong đau khổ. Do đó Đức Phật không tán thán tất cả các loại hiện hữu. Chấp thủ là nhân cho sanh hữu. Chấp thủ này cũng giống như dục phối, tham ái trong dục lạc (kāmayoga) và hữu phối, tham đắm trong sự tái sanh (bhavayoga). Đức Phật đã đoạn tận và vượt qua những chấp trước này.

Theo Chú giải, có tất cả 14 câu hỏi mà Thiên chủ Sakka hỏi Đức Phật. Thiên chủ Sakka rất hài lòng với những câu trả lời của Đức Phật và sau khi bày tỏ sự cảm kích sâu sắc của mình, Thiên chủ đã phát biểu quan điểm của mình về tham ái như sau:

“Bạch Thế Tôn, ái dục xấu xa này là một căn bịnh; nó giống như nhọt, mũi tên hay cái gai đâm vào thịt. Nó thu hút chúng sanh đến với sanh hữu và vì vậy họ sống khổ sở.”

“Dục ái là độc hại, bởi vì nó hết mong muốn cái này rồi lại mong muốn cái kia. Nó dính chặt với những đối tượng dễ chịu và mong muốn được tiêu thụ chúng. Như chiếc lá xào xạc trong gió, lúc nào cũng xao xuyến, bồn chồn, đói khát và tham lam. Ái dục là căn bịnh kinh niên vô phương cứu chữa, nhưng cũng không đến nỗi nguy kịch đến mức chết ngay. Nó khiến con người thoải mái khi nó được thỏa mãn, tuy nhiên dù người ta có chiều chuộng nó bằng những đối tượng giác quan mà nó thích đến đâu đi nữa, thì vẫn không thể thỏa mãn được nó; nó khao khát tất cả các đối tượng giác quan và rồi nó tìm cách hưởng thụ chúng, mọi việc cứ vậy mà lặp đi lặp lại.”

“Dục ái là đáng ghê tởm và khủng khiếp như ung nhọt. Nó cũng giống như cái gai đâm vào thịt vậy. Một cái gai có thể ẩn trong thịt khiến chúng ta không thể thấy bất kỳ dấu vết nào của nó. Vì chúng ta không thể loại bỏ nó, nó sẽ tiếp tục gây đau đớn. Tương tợ như vậy, rất khó để thoát khỏi tham ái, điều này luôn luôn quấy rối chúng ta. Chúng ta lo lắng quá nhiều về những đối tượng ham muốn của mình đến nỗi ban đêm cũng không ngủ được, và vì dính mắc vào cuộc sống này nên chúng ta phải lang thang từ kiếp này sang kiếp khác, bản chất của mỗi kiếp tùy thuộc vào nghiệp của chúng ta.”

Sau khi dẫn giải về lời dạy của Đức Phật như vậy, Thiên chủ Sakka tuyên bố mình thoát khỏi mọi sự nghi ngờ, là kết quả của việc nghe bài pháp của Đức Phật. Vị ấy đã đạt đến giai đoạn đầu tiên của con đường thánh thiện (Bậc Thánh Nhập Lưu), và Thiên chủ đã chấm dứt được nguy cơ phải tái sanh vào các cõi thấp hơn sau khi chết. Ngài đã được đảm bảo chắc chắn về sự tái sanh trong các cõi lành, rồi sẽ chứng đắc được các tầng tuệ giác cao hơn.


Chú thích:

  • 1
    Từ Pāli ‘yoga’ có hai nghĩa. Một nghĩa là ‘phấn đấu’, ‘đảm nhận’ hoặc ‘bổn phận’, còn nghĩa khác là ‘liên minh’, ‘sự ràng buộc’ hoặc ‘xiềng xích’. 7. S.i.228.