Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Sự tái sanh của Đức Vua trời Sakka

Pháp thoại Thiền Sư Mahasi
Biên tập Anh Ngữ
Tỳ khưu Pesala

Dịch Việt
Dhannapālaka

Mục đích chính của Thiền Minh Sát là tìm kiếm, trau dồi tâm xả đi kèm với trí tuệ (xả tương ưng tuệ), tâm xả đối với các hành. Để đạt tới mục đích này, chúng ta nên tránh những hỷ lạc trong ái dục, và nên tìm kiếm những hỷ lạc thiện bằng việc làm thiện và thiền định. Tương tợ như vậy, chúng ta tầm cầu những nỗi buồn thiện phát sanh từ sự thất vọng từ các nỗ lực của chúng ta trên con đường cao thượng, và chúng ta nên tránh những nỗi buồn bất thiện. Cũng vậy, chúng ta nên tránh tâm xả bất thiện trong dục giới mà tìm kiếm tâm xả thiện trong thánh đạo.

Khi hành thiền tích cực, chúng ta nên tập trung vào hỷ lạc thiện, nỗi buồn thiện và tâm xả thiện, bởi vì việc trau dồi các trạng thái tâm thiện này có nghĩa là loại bỏ các đối tượng bất thiện, tiêu cực.

Chúng ta cũng nên loại bỏ những ưu phiền bằng hỷ lạc thiện. Có nghĩa là khi chúng ta phát sanh sự chán nản vì không có được sự tiến bộ trên con đường cao thượng, chúng ta phải vượt qua sự chán nản này bằng cách nỗ lực nhiều hơn nữa để đạt được tuệ giác. Tương tợ như vậy, hỷ lạc thiện cần phải đoạn trừ thông qua tâm xả thiện (ly hỷ trú xả), vì tâm xả thiện có được nhờ tuệ giác chính là sự cao tột trong đời sống phạm hạnh. Tuy nhiên, hỷ lạc có được trong thiền minh sát không thể loại bỏ hoàn toàn, bởi vì hỷ lạc này tạo nền tảng cho ba tầng thiền đầu tiên1Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền. Hơn nữa, hành giả không đắc thiền thì không thể chứng được tứ thiền, tứ thiền là con đường làm sanh khởi tâm xả. Hành giả chỉ có thể chứng đắc ba tầng thiền đầu tiên với hỷ lạc. Hành giả chỉ chứng đạt đạo và quả khi bước qua giai đoạn của tuệ thuận thứ (anuloma-ñāṇa) với hỷ lạc. Do đó, Đức Phật nhấn mạnh đến Quán Xả (vipassanā upekkhā) là trạng thái tâm cao nhất.

Như vậy tuệ hành xả chỉ cách thánh đạo và thánh quả một bước. Nếu hành giả không tự mãn với tuệ giác này, vị ấy thường thành tựu đạo quả chỉ trong bốn hoặc năm ngày. Vì vậy, tâm xả với ly hỷ nên được tầm cầu vì nó dẫn đến đời sống phạm hạnh ở mức độ cao hơn trên con đường tuệ giác.

Một hành giả khi hành thiền nên để đau khổ trở thành hỷ lạc thiện, hỷ lạc thiện thành tâm xả thiện, cho đến khi đạt được tuệ hành xả. Điều này có nghĩa là chứng được bốn giai đoạn thánh đạo, dập tắt được ái dục, ngã mạn và tà kiến. Tóm tắt điều này, Đức Phật nói với Sakka, “Này thiên vương! Vị tỳ khưu tránh xa các trạng thái bất thiện và tầm cầu những trạng thái thiện là dấn thân vào con đường trung đạo, con đường tốt đẹp dẫn đến Níp-bàn, dập tắt mọi sự phiền não.”

Trong khi bài Pháp của Đức Phật, Thiên chủ Sakka đã quán chiếu các trạng thái của tâm mình, trau dồi hỷ và xả thiện, phát triển tuệ minh sát, rồi chứng đắc vào dòng thánh Nhập Lưu. Rồi thiên chủ Sakka chết và tái sinh lại ngay tức khắc ở nơi đó, trong hình dáng của một thiên chủ Sakka mới. Thiên chủ chỉ mới đạt được giai đoạn đầu tiên trên con đường giải thoát.

Sự tái sanh của thiên chủ Sakka cho thấy rằng một vị chư thiên đang hấp hối có thể thu được nhiều lợi ích trong khi nghe Pháp. Nhờ chánh niệm về những cảm xúc thiện, hành giả có thể tiến bộ vượt bậc trên con đường thánh đạo, và loại cảm xúc phổ biến nhất là hỷ lạc thiện. Ở Tích Lan, Tôn giả Phussadeva đã chứng đắc đạo quả A-la-hán sau khi quán chiếu hỷ lạc khởi lên trong khi nhìn thấy tượng Phật. Hoàng hậu của Đức Vua Asoka cũng chứng quả Dự Lưu sau khi quán chiếu hỷ lạc dâng trào trong khi nghe một con chim hót giống tiếng của Đức Phật. Theo các bản chú giải, hành giả thậm chí có thể chứng đắc đạo quả A-la-hán trong khi quán chiếu hỷ thiện, hoặc vị ấy có thể đạt được đạo quả nhờ quán chiếu về sự bố thí, về giới, về tánh chất vô thường của hỷ thiện trong khi hành giả hồi tưởng lại chúng.

Sau khi chứng đắc được giai đoạn đầu tiên là Nhập Lưu, thiên chủ Sakka hoàn toàn giải thoát khỏi thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ. Sự tự do mà bây giờ vị ấy đạt được vượt trội hơn bất kỳ điều gì mà thiên chủ Sakka đã trải qua trong quá khứ, đó là sự tự do của một vị Thánh Nhập Lưu, điều mà trước đây sự tự do chỉ được dựa trên sự hiểu biết và suy tư của vị ấy.


Ghi chú:

  • 1
    Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền