Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Trang cập nhật dữ liệu giáo Pháp mới mỗi ngày! Cập nhật thông báo Tại Đây

Tâm trung lập (thọ xả) thiện và bất thiện

Pháp thoại Thiền Sư Mahasi
Biên tập Anh Ngữ
Tỳ khưu Pesala

Dịch Việt
Dhannapālaka

Upekkhā có nghĩa là thọ xả, một trạng thái trung lập, không vui cũng không buồn. Tâm này phát sanh thường xuyên hơn những trạng thái tâm khác, vui và buồn là những trạng thái tâm không thường xuyên, và chỉ được nhận biết rõ ràng khi tâm vui hay buồn ấy xuất hiện một cách mạnh mẽ. Hơn nữa, thọ xả có hai loại: một loại dẫn đến hành động tốt đẹp và loại kia dẫn đến hành động bất thiện. Kinh Saḷāyatanavibhaṅga Sutta đề cập đến sáu loại vô minh phát sinh từ sáu căn (giác quan).

Thọ xả phát sanh từ các căn của những người si mê được gọi là gehasita-upekkhā. Chúng ta cảm thấy vui khi nhìn thấy một đối tượng dễ chịu, ngược lại, cảm giác khó chịu sẽ phát sanh khi gặp một đối tượng không đáng hài lòng, và có lúc chúng ta có những cảm giác trung lập, không vui cũng chẳng khó chịu đối với những người hay đối tượng đã rất quen thuộc. Ví dụ, chúng ta không cảm thấy vui hay khó chịu khi nhìn thấy một cái cây hay một hòn đá.

Thọ xả bất thiện thường xuất hiện ở phàm nhân (puthujjana), họ không nhận thức được bản tánh vô thường và bị trói buộc trong ảo tưởng là mọi hiện tượng đều trường tồn, tốt đẹp, cũng bởi vì họ thiếu chánh niệm. Không giống với các Bậc Thánh Nhân hay những hạng phàm nhân có hiểu biết (kalyāṇa puthujjana), các vị ấy là những đối tượng nhận thức được sự vô thường, v.v…bản chất thực sự của các đối tượng giác quan. 

Bản chú giải nói thêm người si mê là đối tượng của xả bất thiện. Khi chưa chứng đạt đạo quả Nhập Lưu (Sotāpanna), giai đoạn đánh dấu sự loại bỏ các phiền não dẫn đến tái sanh trong cõi thấp kém; hoặc giai đoạn đạo quả Nhất Lai (sakadāgāmi), giai đoạn đảm bảo thoát khỏi sự tham dụcsân hận thô thiển; hoặc giai đoạn đạo quả Bất Lai (anāgāmi), nghĩa là đoạn trừ hoàn toàn tham dục và sân hận. Một khi chưa chứng đạt đạo quả thì phàm nhân vẫn còn thọ xả bất thiện.

Các vị ấy vẫn còn chịu sự chi phối của Nghiệp lực, bởi vì còn tái sanh. Chỉ có bậc A-la-hán mới có thể vượt qua được sự cho quả của Nghiệp trong kiếp vị lai, bởi các Ngài đã chấm dứt được sự tái sanh, nhưng các vị ấy vẫn phải chịu sự trả quả của Nghiệp của kiếp quá khứ cho đến khi tịch diệt Níp-bàn trong kiếp hiện tại. Tâm xả bất thiện chỉ phát sanh ở phàm nhân (puthujjana), tức là hạng người dễ bị phiền não và luật nhân quả (nghiệp) chi phối. Chú giải gọi “puthujjana” là hạng phàm nhân không có trí tuệ và không có hiểu biết.

Người như vậy được mô tả là một người không nhìn thấy được những điều tội lỗi từ si mê (moha). Do thiếu Chánh Niệm, người ấy không biết sự thật, thay vào đó họ tin vào sự ảo tưởng của một bản ngã trường tồn, vĩnh cữu. Ảo tưởng này dẫn đến ham muốn lạc thú và dính mắc, rồi tự thân cố gắng hành động. Chính sự cố gắng hành động này tạo ra thiện nghiệp hoặc ác nghiệp, dẫn tới sự tái sanh, đưa đến già, bệnh, chết và mọi khổ đau khác.

Phàm nhân bình thường không nhìn thấy được những tội lỗi trong ảo tưởng này và họ cũng không có hiểu biết. Sự hiểu biết có hai loại: hiểu biết về lời dạy của Đức Phật thông qua việc nghe Pháp, v.v… và hiểu biết do kinh nghiệm có được thông qua thiền định và thiền tuệ. Cả hai loại hiểu biết này đều xa lạ đói với hạng người ấy, vì vậy thọ xả ảo tưởng mới sanh ra nơi họ. Các đối tượng của giác quan không phải là nhân của niềm vui hay đau khổ, nhưng họ vẫn đắm chìm trong thế giới của các giác quan. Cụm từ Pāḷi gehasita-upekkhā với geha có nghĩa là ngôi nhà của các giác quan. Nói cách khác, một người bình thường không thể loại bỏ những hiện tượng hay ái dục trần tục khi chúng sanh trưởng và phát triển, vì vậy họ vẫn bị mù quáng trước bản chất thực sự của chúng, đó là: đặc tánh vô thường, khổ và vô ngã.

Chú giải bài Kinh Đế Thích Sở Vấn (Sakkapañha Sutta) giải thích chi tiết tâm xả thiện dựa trên nên tảng những gì được nói tới trong Saḷāyatanavibhaṅga Sutta. Tâm xả thiện, hay thọ xả thiện hướng đến xuất gia, được gọi là nekkhammasita-upekkhā có sáu loại, tuỳ thuộc vào sáu giác quan. Người hành thiền sẽ chánh niệm được sự vô ngã của mọi đối tượng giác quan, hành giả sẽ nhận ra rằng mọi hiện tượng đều phải chịu sự chi phối của vô thường, khổ và vô ngã. Cái nhìn sâu sắc về thực tại của thế gian này sẽ đưa tới cảm giác bình thản cho hành giả, giúp người ấy vượt qua được một thế giới đầy rẫy ái dục và giải thoát bản thân khỏi những trói buộc. Rồi người ấy sẽ có tâm xả đối với những đối tượng giác quan dễ chịu hoặc khó chịu.

Đối với người hành thiền có chánh niệm và đã phát triển định, mọi thứ sanh ra để rồi diệt ngay lập tức. Các bài Kinh thường nhấn mạnh vấn đề này trước khi đề cập đến các đối tượng của giác quan, nhưng trong thực tế, mọi vật đều có sự sanh diệt rõ ràng là có sự liên quan đến các đối tượng tiếp xúcsuy nghĩ ngay từ lúc đầu. Nếu bất kỳ ý nghĩ nào khởi lên trong khi chú ý, ghi nhận đến sự phồng và xẹp của bụng, nó sẽ biến mất ngay khi chú tâm vào ý nghĩ đang hiện khởi. Với sự phát triển của định, hành giả sẽ hay biết về sự sanh và diệt một cách riêng biệt, và sau đó, sự hay biết này phát triển đến khi biết được sự diệt này là một chuỗi liên tục. Ở giai đoạn hành giả hiểu biết về sự diệt, sự tan biến (bhaṅga-ñāṇa), vị ấy thấy bụng, tay, v.v…, không phải là những đối tượng rắn chắc, mà đó là những hiện tượng diệt, tan biến liên tục và ngay lập tức.

Sự tan biến liên tục của các hiện tượng trở nên rõ ràng hơn, với sự phát triển trí tuệ diệt, cuối cùng hành giả nhận ra định luật vô thường. Biết được bản chất của tâm và vật chất như thật, vị ấy không cảm thấy buồn hay vui, mà đơn thuần chỉ là tỉnh giác về các đối tượng giác quan. Hay biết về sự sanh diệt này đưa tới thọ xả, nó nổi trội hơn, tâm sẽ trở nên trong sáng hơn khi đạt tới tuệ sanh diệt và tuệ xả về các hành, hay còn gọi là tuệ xả hành (saṅkhārupekkhā-ñāṇa).

Ở những giai đoạn này trên con đường thiền tập, hành giả không hài lòng cũng không khó chịu khi nhìn thấy những đối tượng dễ chịu hay khó chịu. Vị ấy không dính mắc vào hình dáng, âm thanh, v.v.., và tâm xả của vị ấy vượt khỏi dục giới. Trên thực tế, đây là mục tiêu của thực hành thiền minh sát, đó là sự giải thoát.

Hành giả nên tìm kiếm trạng thái tâm trung tính (thọ xả) thiện để hướng đến tuệ giác này. Tuệ giác này được kinh nghiệm lần đầu tiên ở giai đoạn phát triển của tuệ sanh diệt, và rõ rệt nhất ở giai đoạn xả hành. Theo chú giải, có hai loại trạng thái xả: trạng thái xả có suy nghĩ lan man và trạng thái xả không suy nghĩ lan man. Nhưng trong thực tế, tâm yên lặng sanh khởi trong khi suy nghĩ đều liên quan đến sự suy nghĩ lan man. Tuy nhiên, tâm xả sanh khởi trong khi quán sát tâm dục (ly dục, ly ác pháp) và trú Sơ Thiền thì gọi là tâm xả có suy nghĩ lan man1Liên quan đến chi thiền vitakka (suy hay tầm) và vicāra (sát hay tứ). Xem quyển Sơ Thiền Tâm, Cố Trưởng Lão Hộ Tông biên soạn), còn tâm xả trong Nhị Thiền thì không có suy nghĩ lan man2 Trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.. Trong hai loại tâm xả, tâm xả không có suy nghĩ lan man là tâm xả cao hơn.


Ghi chú:

  • 1
    Liên quan đến chi thiền vitakka (suy hay tầm) và vicāra (sát hay tứ). Xem quyển Sơ Thiền Tâm, Cố Trưởng Lão Hộ Tông biên soạn)
  • 2
    Trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.