Wikidhamma

Thư Viện Nghiên Cứu Phật Giáo


Cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn,
bậc A-la-hán cao thượng, bậc Toàn Tri Toàn Giác

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Vô thường, đặc Tánh Vô Thường và Quán Chiếu Vô Thường

Trí Tuệ Vượt Thời Gian
Sayadaw U Pandita Bhivamsa

Dịch việt
Dhanapālaka

Nếu bạn không biết cách thực hành thiền tứ niệm xứ (satipatthāna), bạn sẽ tiếp tục trôi dạt trong luân hồi vô thủy vô chung hoặc chìm đắm trong dòng chảy của phiền não. Cuộc sống của một người trở nên nhạt nhẽo và vô dụng.

Một thiền sinh đã phân biệt được thân và tâm hay còn gọi là danh và sắc, nhân và quả, loại bỏ quan điểm sai lầm (tà kiến) về bản ngã, một chúng sanh hay một linh hồn. Quan điểm sai lầm về đấng sáng tạo cũng bị loại bỏ và ba đặc tính vô thường (aniccānupassā), khổ (dukkhānupassanā) và vô ngã (anattānupassanā) sẽ được hiểu biết thông qua kinh nghiệm hành thiền.

Một thiền sinh phải phân biệt được vô thường (anicca), các đặc tính của vô thường (aniccalakkhanā) và quán chiếu vô thường (aniccānupassanā). Phân biệt được vô thường (anicca), thiền sinh sẽ thấy rằng năm uẩn là vô thường. Trong năm uẩn, có thân và tâm (rūpa và nāma). Các đặc tính cứng, mềm, căng, dính, chuyển động, nóng, lạnh, …là tổng hợp của vật chất. Nhãn thức tâm, nhĩ thức tâm, thân thức tâm, …tạo nên thức uẩn. Sau đó cảm giác (thọ), xuất hiện nhận thức  và tâm mưu tính.

Tất cả năm uẩn, luôn sanh rồi diệt. Ví dụ, khi nước trộn với bột, sự kết hợp của nước với bột tạo ra hỗn hợp bột nhão. Giống như bột được tạo thành từ nhiều thành phần, các vật chất kết hợp với nhau thành một nhóm để tạo ra thân (kāya). Khi chúng ta nhìn, nghe, nếm và chạm, thiền sinh trải qua những cảm giác tốt và xấu. Với tâm thức và sự tiếp xúc, thiền sinh sẽ thấy được sự tương tác giữ thân và tâm. Thân và tâm sinh diệt liên tục.

Bởi vì năm uẩn (thân và tâm) là vô thường, chúng gây ra khổ (dukkha). Thân và tâm (rūpa và nāma) phát sanh thành một cặp rồi tan biến. Thiền sinh thường xuyên bị dày vò bởi sự sanh diệt của thân và tâm. Không có tự ngã trong đó Không có con người, bản thể hay linh hồn ẩn trong thân và tâm. Không có linh hồn của một cá nhân (jīva atta) trong thân và tâm (rūpa và nāma), các yếu tố này phát sanh bởi các điều kiện liên quan. Giống như một người có ba cái tên, tương tự, thân và tâm (rūpa và nāma) cũng được gọi là khổ và vô ngã. Điều này phải được thông hiểu bằng sự thực hành của thiền sinh. Khi thiền sinh ghi nhận đối tượng đang sanh khởi, thiền sinh nhận biết được đặc tính vô thường qua kinh nghiệm hành thiền của chính mình.

Khi ghi nhận sự phồng lên hay xẹp xuống của bụng, bằng cách ghi nhận sự cứng, căng, chuyển động, …thiền sinh sẽ phân biệt được thân (rūpa) là sự thật của khổ (dukkha sacca).  Thức biết (ý thức tâm), cảm giác hay xúc được gọi là tâm (nāma).

Bằng sự theo dõi các đối tượng sanh khởi trong hiện tại, thiền sinh sẽ có chánh niệm về thân và tâm (rūpa và nāma), các đặc tính của chúng là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta). Khi Vô Thường (anicca) được thấy rõ, thiền sinh cũng thấy được khổ và vô ngã. Và khi thấy được vô ngã, thiền sinh cũng thấy được sự vô thường và sự khổ.

Thiền sinh phải thấy được vô thường và các đặc tính của vô thường thông qua kinh nghiệm thực hành. Những người da trắng có làn da trắng, người châu á có làn da hơi vàng và có những người có màu da nâu hay da đen.

Màu da và người không giống nhau. Màu da chỉ là dấu hiệu bạn là người da trắng, da vàng hay da đen. Cũng như vậy, thân và tâm  chỉ là dấu hiệu của đặc tính vô thường, khổ và vô ngã. Sự phồng lên của bụng sẽ xuất hiện sự căng, cứng , mềm, …Khi bụng xẹp xuống, những kinh nghiệm quá trình xẹp xuống cũng tương tự. Bất kể là trải nghiệm nào, dù là cứng, chuyển động hay căng, nó luôn có sự sanh và diệt, luôn có ba đặc tính của vô thường (aniccalakkhanā). Cũng giống như trường hợp màu da, người và máu da là khác nhau, các đặc tính của vô thường (aniccalakkhanā) và những yếu tố thuôc thân, tâm (anicca) cũng khác nhau.

Trạng thái của sanh và diệt là đặc tính của vô thường (aniccalakkhanā). Khi thiền sinh quan sát trạng thái sanh và diệt, thiền sinh quán chiếu về vô thường (aniccanupassanā). Mỗi khi thiền sinh ghi nhận đối tượng, thiền sinh lại quán chiếu về sự vô thường. Ví dụ, khi đối tượng của nhiệt độ, những đối tượng này là vô thường (anicca) sanh khởi, thiền sinh ghi nhận nhiệt độ và quan sát bản chất sanh và diệt của nó (aniccānupassanā). Trạng thái diệt là sự quan sát các đặc tính của vô thường (aniccalakkhanā). Những hiểu biết này không thể có được bằng sự suy nghĩ hay đối chiếu. Thiền sinh phải kinh nghiệm trực tiếp quan sát sự sanh khởi, tan ra của từng đối tượng.

Nếu đối tượng được nhận biết là nhiệt, trong khi ghi nhận nhiệt, thiền sinh sẽ phân biệt được sự tan biến của nhiệt và phát triển các đặc tính của vô thường (aniccalakkhanā). Ở đây, nhiệt là vô thường (anicca). Trạng thái diệt (biến mất) là đặc tính của vô thường (aniccalakkhanā). Nhận thức rõ trạng thái sanh diệt và quán vô thường, thiền sinh sẽ phát triển quán chiếu về vô thường (aniccanupassanā) và cũng phát triển được tuệ giác (vipassanā). Một khi tuệ giác (vipassanā) được phát triển thì thiền sinh sẽ có thể phân biệt được trạng thái diệt (biến mất).

Tại một thời điểm, thiền sinh có thể chỉ phân biệt được một trong ba đặc tánh của vô thường, khổ và vô ngã. Thiền sinh không thể phân biệt cả ba đặc tính này cùng một lúc. Vào những lúc khác, thiền sinh phân biệt được khổ (dukkha), vô thường hay vô ngã. Khi một trong ba đặc tánh được nhận biết, hai đặc tánh còn lại sẽ hiển lộ. Vipassanā có nghĩa là quan sát các đặc tánh khác nhau của vô thường, khổ, vô ngã và phát triển được tuệ minh sát (vipassanā ñāna).

Thấy được các đặc tánh của vô thường, khổ và vô ngã, thiền sinh sẽ phát triển được tuệ minh sát (vipassanā ñāna). Khi chú ý đến nhiệt, thiền sinh nhận biết sự biến mất và phát triển quán chiếu về vô thường (aniccanupassanā) thông qua sự biến mất của nhiệt. Khi đối tượng được ghi nhận ngay khi nó vừa sanh khởi có mục đích, tinh tấn, tâm ghi nhận sẽ an tịnh và gom vào đối tượng, thiền sinh sẽ phân biệt được vô thường và phát triển được trí tuệ minh sát. Một thiền sinh chỉ có thể phát triển quán chiếu về vô thường (aniccanupassanā) thông qua một phương thức thực hành gọi là aniccānupassi.

Khi nhiệt độ sanh khởi, cần ghi nhận có mục tiêu, cẩn thận và nổ lực. Sau đó, thiền sinh có thể ghi nhận được sự biến mất của nó. Trong sự ghi nhận này, thiền sinh có thể quan sát được nhân và quả, cũng như khổ và vô ngã. Nếu một người không có chánh niệm, người ta sẽ có một cái nhìn sai lầm về sự vĩnh cửu, sự hiểu biết sai lầm là nhân sanh vô minh, hay vô minh đơn giản là sự không thấy được trạng thái thật sự của các hiện tượng. Với sự hiểu biết sai lầm (tà kiến), chấp thủ (sự bám víu) sẽ khởi sanh. Khi thiền sinh chánh niệm, không có sự tham ái với đối tượng đang được ghi nhận. Bởi vì tham ái vắng mặt, thì chấp thủ (sự bám víu) (upādāna) vắng mặt.

Phân biệt chính xác, thiền sinh sẽ không còn chấp (coi) mọi thứ là trường tồn, vĩnh viễn nữa. Kết quả, tham ái sẽ không phát sanh và do đó, không có sự chấp thủ. Khi thiền sinh chánh niệm, thiền sinh sẽ ngăn chặn được dòng chảy của phiền não.

Bằng sự phát triển của trí tuệ, thiền sinh ngăn chặn được phiền não. Khi thiền sinh tiếp tục hành thiền, thiền sinh sẽ phát triển được trí tuệ minh sát, qua từng giao đoạn cho đến khi chín mùi và thiền sinh đến trạng thái chấm dứt được phiền não. Khi phiền não được nhổ tận gốc, thiền sinh sẽ đạt tới trạng thái vô sanh bất diệt, không còn quay lại đời sống này nữa.